Saturday, June 29, 2013

Đem chi Xuân đến gợi thêm sầu



ĐEM CHI XUÂN ĐẾN GỢI THÊM SẦU*

1-          Mặt trời ngã trên hàng cây mờ nhạt. Nắng chen chút sau đám mây màu xám tối.Mùa đông đang về. Không khí ui ui như sương xuống. Một nỗi buồn hoang vắng nào đó vương vất trên cánh đồng mênh mông cỏ lúa.Những cây lúa mọc hoang từng bụi chen trong đám cỏ lát u du. Có những khoảng trườn dài dấu xích xe. Bên con đê khuất dưới đám cây trăm bầu nổi lên những mô đất. Đây là hầm hố của Việt Cộng hồi sau Tết Mậu Thân. Những dấu xích và hầm hố đó đã hiện lên trăm xa, ngàn cách tình người. Chiến trận hôm nào đến đây đã phanh thây biết bao nhiêu đời sống. Bây giờ tất cả trơ ra quạnh quẽ sầu thương. Mái tranh cửa vắng phên rêu, trước sau hoang tàn đỗ nát. Người dân sống giữa hai lằng đạn đã lần hồi dồn thúc về phía phố làng, phố quận hay dọc theo những con đường liên quận, liên tỉnh. Chỉ còn một số người ở lại vì nuối tiếc mồ mã ông bà, cha mẹ,miếng ruộng ,khung vườn. Họ sống chui rút đấp đổi qua ngày tháng trong nỗi chết vờn quanh hơi thở.
                Thứ ngồi trên một mô đất cởi gây nịt đeo súng và đặt qua một bên. Nắng đã ngã màu sáng hơn lúc nãy. Hàng trăm bầu mọc theo con đê chạy dài mút đằng vuông dừa bây giờ thấy rỏ hơn. Những cây dừa lá vàng úa và gẫy gập xuống theo thân, có vài cây trơ trụi lá.Thứ thấy một căn nhà nằm xiêu vẹo ở đó và có khói bốc lên tua tủa.Thứ nghĩ chắc bọn lính đang nấu nướng gì đó- lúc nầy đang dừng quân.Chiếc L19  bay quanh một vòng trên đầu.Thứ hỏi người lính hiệu thính viên : Có thêm lịnh gì chưa?.Nghe gọi hắn quay đầu lại và nói: Chưa có lệnh gì thẫm quyền. Thứ cầm bản đồ hành quân trãi xuống đất.Thứ nhìn những lằng mũi tên đỏ và những mẫu tự khoanh tròn. Đó là những đường  hành quân trên khắp nẻo xóm làng. Đó là cuộc hành trình của tuổi trẻ bươn trãi trên quê hương đau đớn vì cuộc chiến quá dài nầy. Nầy đồng bằng, nầy chùa chiền, nầy mồ mã, nầy làng xóm. Đường mủi tên ngắn trên bản đồ, nhưng bước chân tuổi trẻ duỗi dài cây số đường xuyên. Quê hương yêu dấu của ta ơi! Ta đã đi qua bao nhiêu đồng bằng, bao nhiêu nhà cửa, bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu bom đạn, bao nhiêu trái phá, bao nhiêu hầm chong, bao nhiêu địa đạo. Ôi làm sao ta nhớ hết những dấu tích tang thương nầy. Ôi làm sao ta nhớ hết những lần tử thần treo trong từng hơi thở và rịn mồ hôi trong nhiều giấc ngủ chiêm bao! Ôi em yêu! ta cuồng nhiệt yêu em như thể nếu chậm trễ sẽ không còn có dịp để yêu nửa. Ôi mẹ! Ôi cha! từng ngày tháng trôi qua từng ngày tháng chờ tin con trẻ..Con đi mãi…con đi mãi. Ba má đợi chờ !.
              “Anh chiến binh ơi!non sông mờ khói lửa, anh vì đời đi gánh vác non sông”. Ừ-ta vẫn đi hằng ngày. Buổi sáng chưa kịp xúc miệng, chưa kịp ăn đã đi. Buổi chiều hẹn về nhưng nằm lại giửa đồng hoang. Đêm ngủ gật gù với nhiều mối lo toan. Cơm áo cuộc đời  lây lất trong cuộc hành trình trói chặt thân ta.Ta vẩn làm vui và hăng hái đi tới vì quanh ta là bạn bè chiến đấu.Vì quanh ta là kẻ thù đang đợi chờ.Mọi lơ đểnh sẽ làm ta mất mạng, không còn nối tiếp mộng ước ngày tái ngộ quê xưa.Ta sẽ gặp lại mẹ cha họ hàng chòm xóm.Thì ta vẫn đi để bảo vệ xóm làng. Mặc dầu không biết ta đã giử được bao nhiêu bình yên và đã mất bao nhiêu tủi buồn cho đất nước. Ôi làm sao ước đoán hết nỗi khi chiến tranh cứ càng lúc càng khóc liệt!!!
                Hởi các bạn đồng hành của ta ơi!.Chúng ta là những chứng nhân thật sự của cuộc chiến tàn khóc nầy.Những tượng đá hình nhân đành vứt bõ khung trời hạnh phúc nhỏ nhoi, một thời trai trẻ .Chúng ta ra đi chiến đấu để dành lấy TDo, No Ấm.Tự-Do! No-Ấm! …..Chúng ta đâu tiếc gì xương máu cho mục đích ấy, nhưng chúng ta vẫn thấy bọn người hô hào những âm vang đó sống nhởn nhơ ở phố chợ, trong căn nhà sang trọng với rượu thịt ngập đầy. Bọn trục lợi chiến tranh!..Và cuộc đời chúng ta phải điêu đứng!.
                Binh 1Tín, hạ sĩ Thường đứng trước hiên nhà, mỗi người bưng một tô cơm. Họ xúc từng muổng cơm đầy vun đưa vào miệng nhai ngốn ngấu.Thứ lằm bằm: Hai cái tên nầy chứng nào tật nấy, nói hoài không chừa được.Cứ mỗi lần dừng quân là kiếm ăn, no cũng ăn, đói cũng ăn. Có ngày toi mạng.Thứ văng tục: Đ.M hai cái thằng đó cứ lo ăn không lo lục soát với mọi người.Tao đá  tui bây bây giờ. Binh1 Tín nói trong miệng còn cơm:Tụi em đói thẩm quyền.Thứ quát lớn: Đi lục soát ngay! Hai ngưòi lính bỏ lại hai tô cơm còn ăn dở vội chạy ra ngoài. Thứ thấy trong lòng có một nỗi bức rức chợt dâng lên. Một thứ tình cãm cuộn xoáy như muốn xé nát tâm hồn mình. Chiến tranh! Chiến tranh !Chó má!chó má quá! Tín,Thường tôi xin lổi hai anh, nếu không có chiến tranh tôi đâu có ngồi đây, ngồi trong nỗi khổ khôn cùng, ngồi trong chập chờn nỗi chết. Các anh đâu có bị lôi cuốn vào cơn chém giết, các anh đâu bị la lối vô lý khi các anh sống theo sở thích của các  anh.Tôi và các anh bị trói trong một hệ thống mắc xích đeo chân không thể rời nhau. Cái thứ liên hệ phải cày xới lên đời sống cá nhân, không được sống thỏa lòng tự nhiên, còn bị bóp méo xô lệch. Tôi phải theo, các anh phải theo. Đừng buồn tôi nghe hai anh!
                “Anh Thứ à,lúc nầy em thấy anh làm sao ấy!? không còn dịu dàng như lúc trước nửa.Nói chuyện với anh mà em cứ tưởng là nói với một kẻ lạ” Ừ- kẻ lạ thực sự rồi đó Ngọc Khanh! Anh đã mất anh từ lâu rồi mà. Nhiều khi đối diện với em, với mọi người mà cứ tưởng mình đang đối diện với ma quái. Họ nhảy múa, em nhảy múa. Quanh anh như toàn rừng thiên nước độc. Ngôn ngữ mọi người như đâm chỏi vào anh như những tiếng khua. Lùng bùng! Lùng bùng! Anh không nghe được gì hết.Trí não loạn cuồng.Anh thấy tự dưng mình bị lạc loài đau đớn! Đi, đứng-ăn nói như với thinh không. Nhiều lúc anh nghĩ tiếng nói của mình như viên đạn cứ xoáy xoáy đi trong lặng lẽ và rớt xuống trong cô độc.Ngọc Khanh ơi!nhiều lúc ôm em trong lòng, hôn em say đắm mà sao anh muốn giết em  hết sức ?! Anh muốn bóp cổ một thân thể man rợ cứ đeo cột tâm hồn anh trong bận bịu kỳ khôi, như biển chập chùng sống vổ úp chụp vào anh miên man. Anh muốn em tan biến vào anh…. Và… tình yêu em là tiếng gỏ gọi, khi anh đang chới với trong cơn hụt hẩn chiến tranh.!
                  Thứ nghĩ ngợi miên mang trong nỗi buồn chụp xuống tâm hồn chàng bất chợt. Người hiệu thính viên nói với Thứ: lệnh đại bàng cho rời vị trí. Thứ xếp bản đồ hành quân bỏ vào túi áo và đứng lên nói: Bảo tụi nó cẩn thận khi vào xóm nhà.
                   Thứ đứng tần ngần nhìn căn nhà vách lá. Căn nhà lộ cái vẻ lạnh lẽo tiêu điều làm lòng chàng bùi ngùi chua xót. Một thứ chua xót nhớ thương về tuổi thơ của mình hồi còn sống ở quê nhà. Có những buổi sáng sương còn ướt đầm đầy cây cỏ. Chàng theo mẹ đi trên con đê đất cong queo dẫn ra chợ làng. Cây lá quất những hạt sương lạnh mát vào mặt.Trời ửng sáng, nắng rực một vùng trời ở phía ngoài đồng.Thứ nghe tiếng dí dọ của nông dân và tiếng trâu lội sình bì bõm. Dọc theo đường đi trên hàng trâm bầu bầy chim sẽ kêu ríu rít, xa một ít về phía gần chùa Miên là cái bào sen rộng, bầy le le đang lặng ngụp tìm mồi. Buổi sáng đồng quê yên bình. Lòng người không bận bịu lo âu. Mọi người sống trong những giấc mơ chân chất thật thà yêu thương gắn bó. Đời sống đồng quê không cầu kỳ mà rất đơn sơ mộc mạc. Cá đồng cơm ruộng, rau liếp, lúa bồ, đã đùm bọc người miền quê với sự an lạc suốt tháng suốt năm. Một chiếc áo bà ba, một cái quần vãi nhuộm, một chiếc nón lá, một đôi guốc mộc, một mái tranh đơn sơ là cuộc sống-  bình dị- thảnh thơi Người ở quê chất phát, thật thà. Mỗi câu nói, mỗi nụ cười đều biểu lộ niềm hân hoan đồng lúa. Đồng lúa luôn mở vòng tay đón nhận phận người. Đồng lúa đem về cho người dân cơm sớm, cơm chiều. Đồng lúa đem về những cây rơm cao ngất. Cặp trâu cột nhơi nhép suốt đêm. Quê hương mưa nắng hai mùa là sức sống, là niềm tin của người dân sống lưu truyền huyết thống. Ở đây mới đích thực là cội nguồn dân tộc, là văn hiến 4000 năm nòi giống. Tiếng sáo dập dìu, ca dao ngọt lịm. Tất cả ý lực tiềm tàn từ đó vương lên làm nên vinh quang dân tộc. “Ai ơi đừng bõ ruộng hoang bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu  “ Tiếng võng đưa kẻo kẹt, lời ca dao ngọt ngào đã rót vào hồn tôi suốt thời gian bên ba,bên má. Ba cho con ý lực, má cho con trái tim nhân ái. Tuổi trẻ của ta lớn lên như ngọn lúa. Thiên nhiên trộn hòa hơi thở, gió mát un đúc tâm hồn. Tâm hồn mộc mạc của đời sống của người dân chỉ mong được sống với mảnh ruộng, miếng vườn của cha ông để lại; Trên đồng cạn dưới đồng sâu chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” Bây giờ thì mọi thứ đã đổi thay, người lạc người, trâu đi hoang, đồng không mông quạnh. Có còn đâu bóng mát tình quê?.
                 Thứ nhìn căn nhà còn phản phất hơi hướm người ở. Một chiếc bàn tròn đặt ngay giửa nhà với ba cái ghế dựa đã nhạt màu. Bên trong cùng là  chiếc bàn thờ có vài vết đạn ở cánh cửa bên trái, bên ngoài là hai cánh  màng màu vàng viền đỏ được cột lại  ở khoãng giữa.Tất cả  như muốn tan ra nếu như có cơn gió mạnh. Phía bên trái sát gần vách lá là bộ ván làm bằng gổ dầu. Dưới bộ ván nhưng hơi ẩn vào trong một ít là cái hầm núp bằng đất. Bên trên cái hầm chiếc, cày không lưỡi nằm vắt ngang. Phía trên xà ngang của trần nhà có treo cái sườn xe đạp hiệu Peugoet, nước sơn tróc từng mãng nhỏ. Chắn chắn trong nhà phải có người ở.Thứ gọi lớn.: Có ai trong nhà không? Không có tiếng hồi đáp. Một người lính tay cầm súng lờm lờm vừa đi vừa quát lớn: Có ai trong hầm khôngra mau, chúng tôi đốt nhà chạy ra không kịp nghe! Một người nói vói “ Ê đi cái kiểu như mầy coi chừng bỏ mạng đó con. Có lẻ hiểu ý, anh ta đi cẩn thận hơn. Anh gọi lớn lần nửa: Có ai ở trong chắn xê không? Bây giờ có tiếng trả lời của một người đàn bà. Thứ đoán chắc là người lớn tuổi
            -Có mấy bà cháu tui mấy ông ơi!
            -Thì ra mau đi.
         Từ miệng hầm hiện ra một mái tóc bạc trắng từ từ chui ra. Bà lão ôm đứa bé trạc ba tuổi tên tay và một đứa bé chừng 7 tuổi một tay bấu vào vạc áo bà. Cả ba người ngồi ở miệng hầm và nhìn mọi người lắm lét:
             -Còn ai ở trong đó không bà?
             -Dạ hết rồi mấy ông.
             -Gọi ông bà gì cho tổn đức tụi tui. Sao gọi hoài bà không chịu ra vậy?
            -Dạ tui già rồi ..lãng tai lắm mấy ông ơi.
       Thứ bảo mấy người lính ra ngoài lo lục soát và bước tới chổ bà lão  hỏi:
            -Nhà còn ai nửa không bác?
            -Dạ hết thiệt rồi ông.
            -Vậy chớ ba má hai cháu đâu rồi bác?.
      Bà lão đưa tay chỉ bức ảnh trên bàn thờ. Đó là bức ảnh của một người đàn ông khoãng hơn ba mươi tuổi. Tóc rậm, mắt hơi sâu, cười nửa miệng. Gã mặc chiếc bà ba để lộ trái cổ nhô ca. Toàn vẽ của người trong ảnh rất mộc mạc. Bà lão nói
            -Thằng nhỏ nhà tui đi lính nghĩa quân, chết cách nay ba năm, còn má sắp nhỏ đi chợ từ sáng sớm. Nghe lính đi bố chắc chưa dám dìa.
            -Ông anh đi lính ở đâu?
            -Dạ lính ở đồn T.B.T. Nó chết banh xác vì đạn pháo kích. Mấy ổng bao vây đồn và tấn công từ khuya tới sáng. Pháo binh từ quận bắn trái sáng và thụt cà nông suốt đêm. Sáng ra quận đưa lính tiếp viện. Mấy ổng mới chịu rút lui. Xác mấy ổng còn để trên hàng rào. Máy bay chuồng chuồng bắn rát quá chịu gì thấu. Hỏng có tiếp viện và máy bay chắc mất đồn. Hai thằng con của nó nè. Bà lão kéo hai đứa bé ra phía trước. Bà nói tiếp:
           -Nhờ trời phật phò hộ, hôm đó má nó dắt vào đồn thăm ba nó. Nó chỉ bị thương mất hai ngón tay. Bà nâng cánh tay thằng bé cho Thứ xem. Đôi mắt nó nhìn chàng như hai giọt sương nằm trên lá sớm. Đôi mắt toát vẽ ngây thơ nhưng thoáng hiện sự sợ hãi, mới chừng ấy tuổi cháu đã trãi qua biết bao nhiêu nỗi kinh hoàng. Nó đâu hiểu thế nào là chiến tranh và chiến tranh từ đâu tới?! nhưng niềm khiếp đãm phủ trùm lên tuổi thơ của nó. Thứ nhìn vào đôi mắt đứa bé như thấy lại một khoảng đời tuổi thơ của mình trong những ngày tháng tản cư sống ở Cồn Cù. Mỗi đêm nghe tiếng súng nổ ầm ì. Mỗi ngày máy bay oanh tạc từ trưa tới chiều. Mới sáu tuổi Thứ đã biết tự mình tìm hầm trú tránh bom đạn. Tiếng rầm rú của máy bay, tiếng nổ ầm ầm của bôm nổ. Những lằng đạn vút vút trên miệng hầm. Trái tim trẻ thơ của chàng tràn đầy kinh hãi! Chàng đã trãi qua một tuổi thơ khiếp đãm buồn rầu!

2-    Cái hầm được đào âm dưới bụi dứa gai và ăn thông vào cái hầm nổi ở trong nhà. Bụi dứa lâu năm nên rất rậm và khó có ai đoán được có cái hầm núp ở phía dưới. Khi cần vào hầm nầy thì bắt buộc phải chui vào cái hầm trong nhà và bò lần vào cái hầm ở dưới bụi dứa. Khi có báo động hắn chui vào trước và mọi người còn lại vào sau. Từ cái hầm trong nhà có vách ngăn, nếu nhìn thoáng qua sẽ không biết nó có lối thông ra cái hầm ở bụi dứa. Thường khi lính ít chui vào hầm để khám. Họ không có thời giờ và  trong hầm lại tối om om. Hắn chui xuống hầm và ở dưới suốt ngày, nếu không có ám hiệu của má hắn. Hầm chật chội, mồ hôi ướt đầm cả áo. Một thứ không khí tù hãm hôi hám nhưng hắn đã quen. Chính hắn tự lựa chọn cho mình cách sống nầy. Hắn muốn mình là người ngoài cuộc, là kẻ không liên can đến cuộc chém giết vô lý mà đất nước nầy phải gánh chịu. Người ta nhân danh nầy nọ, lý thuyết nầy, chủ nghĩa kia để đẩy thanh niên vào một cuộc chiến không có dấu hiệu kết thúc!?
              Hồi lúc mới bỏ học ở Sài-Gòn về đây sống với má. Má hắn thường nói: Thời buổi bây giờ khó khăn lắm nghe con, đi đứng phải cẩn thận. Liệu không ổn thì lên ở với bác Hai mầy ở trên quận lo làm ăn gì đó đi?!.Ruộng nương để đây má với vợ thằng Thìn coi được rồi. Đất đai có bao nhiêu đâu mà cần nhiều người. Ở đây có ngày không bị lính bắt cũng bị mấy ông ngoài bắt. Ai bắt cũng khổ hết con ơi!.Hay là mầy vô lính tại xã đi. Lính còn có chổ núp, chớ như mấy ổng chết dễ như chơi con ơi! Hắn nói: Đi bên nào cũng chết, má thấy anh Thìn đó, đi lính nghĩa quân ở đồn bót cũng chết! Nói cho cùng tui không thích đi bên nào hết
Hắn đổi thế ngồi nói tiếp:
        -Tui quyết định rồi, cứ ở đây.Tui có cách.
        - Cách gì bây giờ?
        -Tui sẽ đào hầm trốn.
        -Trốn hoài được sao?
        -Ư -cứ trốn hoài! Thà chết mòn ở đây chứ tui không muốn cầm súng cho bên nào hết. Má thấy đó, có tụi nào tốt đâu. Lính đi về đây bắt gà bắt vịt ăn, bắn bừa, bắn bãi. Tụi bên ngoài không bắt gà, vịt nhưng kêu ủng hộ còn tổ cha hơn bắt. Má thấy có ai dám phản đối khi tụi nó xin không!? Lính ăn có bửa, còn tụi bên ngoài ăn dài dài chịu sao thấu má! Chưa kể nếu ai không nghe tụi nó thì bị thủ tiêu. Thôi bên nào cũng ác hết má à!
            Thế là hắn có kế hoạch đào hầm để tự chôn mình ở dưới đó, cách biệt với bọn người ác độc bên trên.Tại sao người ta không thương yêu nhau, không chịu ngồi lại với nhau trong ruột rà chân thật mà cứ bắn giết nhau. Bộ giết người sướng lắm sao? “ Em Lành ơi! anh sẽ ở lại đây với ruộng vuờn bờ ao luống cãi. Mộ ba anh, ông bà của anh còn ở đây. Má anh hom hem già nua yếu bịnh. Mấy đứa cháu anh còn thơ dại dễ thương. Nhất là em-em là nỗi vui mừng đầy ấp trong mỗi lần chúng ta gặp nhau. Tất cả đó là mối dây ràng buộc cho anh có đầy nghị lực để chóng chọi lại nghiệt ngã của cuộc đời gian truân nầy. Hôm nghe chị Thìn ngồi hát ru con trên chiếc võng hát bài ca vọng cỗ “Con ơi tháng chạp đến đây là ngày con xuất giá vu qui…”.Bài hát nầy hình như là lâu lắm rồi phải không em? Cái thuở bọn mình còn nhỏ xíu. Em có mơ ước ngày tụi mình làm đám cưới không em? Anh cứ chui rút thế nầy thì làm sao có được ngày ấy. Tội nghiệp cho em phải chờ đợi. Có lần em nói em sẽ chờ hoài khi nào yên giặc thì cưới nhau…Đến bao giờ hết giặc em ơi!?
          Có con muỗi nào đó đã chui được vào trong nầy, bay vo ve bên tai hắn. Hắn nghĩ-thật quái tao đã chịu tù hãm ở đây, còn mầy có cái không gian bao la bên trên sao  lại chui xuống đây?. Mầy là đồ ngu, thảnh thơi không muốn lại muốn chui rút như tao….Ờ tao hiễu rồi-mầy là muỗi, là loài hút máu người, cho nên ở đâu có hơi người là mầy tìm đến. Mầy đâu cần tự do. Đồ khát máu! Tao sẽ giết mầy. Hắn nghe ngóng xem tiếng vo ve từ chổ nào để chập hai bàn tay giết nó.Tiếng vo ve vẩn còn quanh đây. Hắn tức giận và thì thầm---Đồ chó chết--Đồ hèn nhát. Sao mầy không dám đậu trên tay tao mà hút máu. Mầy ở chổ nào….?.Đang trong thì thầm thì con muổi đã đậu ngay trên trán hắn. Nó đưa cái vòi dài và đâm thũng lớp da, nhả nọc độc vào, hút máu hắn ra. Hắn nghe đau ngứa trên trán. Hắn vung bàn tay phải đập vào trán, nhưng con muỗi đã bay mất rồi.  Vo ve-vo ve- Hắn thấy tức cành hong vì không giết được con muỗi. Đồ hút máu người. Hắn buồn bã nằm xuống.
          Có tiếng gỏ nhịp báo của má hắn.Hắn ngồi dậy với nổi vui mừng, khoan khoái vì từ lúc nầy hắn sẽ chui ra khỏi hầm,hít thở cái không khí bên trên:
           -Lính đi lâu chưa má?
           -Chắc về gần tới lộ lớn rồi. Hồi trưa mấy ổng la om sòm tao sợ mấy ổng xét kỷ thì nguy to.
           -Sao họ làm cái gì mà ở nhà mình lâu vậy má?
           -Mấy ổng hỏi bắt hoàng đủ thứ.Có cái ông đeo lon hỏi má về ba má hai thằng nhỏ.Ông nầy có vẽ tử tế lắm con.
           -Má nói gì với họ
           -Thì má nói thằng anh mầy đi lính chết, má sắp nhỏ đi chợ
          -Mấy ổng có nghi gì không má?
          -Không có nghi gì ráo con à
Nói xong bà thúc dục:
          -Thôi đi tắm gội đi, rồi lo ăn cơm nước. Trời gần tối rồi. Mấy ông bên kia về nửa thì đói meo đa!.
          Hắn đi ra nhà sau cởi đồ ra tắm. Suốt ngày nay nằm riết ở dưới hầm nhơ nhớp  quá. Hắn vói lấy cái gáo nước, đưa vào lu múc một gáo đầy và xối cho nước chảy từ từ  Nước chảy dài từ đỉnh đầu xuống cổ và  phần còn lại của cơ thể. Hắn nghe một cãm giác sảng khoái như bay bổng lên thinh không. Hắn nhắm mắt để tận hưởng giây phút lâng lâng hạnh phúc nầy. Cái hạnh phúc thật nhỏ nhoi nhưng tuyệt diệu!  Hắn lại nghĩ đến bửa ăn má nấu cho hắn sắp được ăn, đơn sơ nhưng đậm đà tình quê vì thức ăn làm từ cây nhà lá vườn. Bổng hắn nghe có tiếng lao lao ở trong nhà. Hắn gọi vói : Má ơi má…!một cơn lạnh bổng chạy suốt thân hắn..hắn định chạy nhưng trể rồi! Hắn bị hai người quật ngã  xuống đất. Sau đó hắn bị cột quặp hai cánh tay về phía sau.  Má hắn ôm mặt khóc:
          -Các ông ơi! đừng bắt con tôi.
      Một trong hai người đàn ông nói;
         -Đồ phản động tha sao được! thì ra mầy theo ngụy dẩn lính về đây đánh phá cách mạng và nhân dân.
     Má hắn khốc lốc van xin.
         -Các ông ơi! Nó không có theo ai hết. Nó trốn ở dưới hầm mà!
     Hắn bị một tên đấm vào mặt và kéo hắn vào nhà.
         - Cơ sở hạ tần của cách mạng bấy lâu nay bị phá vỡ chắc chắn do mầy cung cấp tin tức. Gã đàn ông quát :  Đồ phản động, mày sẽ bị xử tội trước nhân dân. Hắn phân bua, má hắn phân bua. Chẳng làm hai người nầy nghĩ ngợi. Và hắn bị lôi đi trong tiếng khóc thãm thiết của má hắn. Tha cho con tôi! Tha cho con tôi! Nó vô tội các ông ơi! Bà ngất lịm trong căn nhà vắng tanh. Ngoài đồng chỉ còn nghe loài côn trùng nỉ non buồn bã. Đêm đen mịt mùng…..
       3-  Hôm nay 30 Tết, đại đội rãi quân nằm vòng đai cho thị trấn quận lỵ. Bộ chỉ huy  đóng trong khuôn viên đình Tân Lý Đông. Một cái đình cổ với lối kiến trúc mái ngói đỏ rêu phong, bốn gốc mái cong hình cánh phượng. Vuông đất mộc toàn cây sao và cây dầu cao ngất, có nhiều cây to cỡ gần hai vòng tay.Thứ tìm một nơi nhiều cây có bóng râm mát cả một vùng lớn. Sau khi ra lịnh cho các trung đội bố trí vào các nơi. Thứ đi một vòng kiểm tra và trở lại bộ chỉ huy mắc chiếc võng nylon vào hai thân cây.Thứ muốn nằm nghỉ ngơi một thoáng. Năm nay có lịnh hưu chiến ba ngày mùng 1,2 và 3. Qua kinh nghiệm cái Tết Mậu Thân, mặc dầu hưu chiến nhưng lệnh cấm trại 100 phần trăm vẫn được ban hành, để đối phó với bọn V.C có thể tấn công bất ngờ.
        Trời cuối năm gió lành lạnh, bầu trời trong veo. Một cơn gió lướt mạnh, trăm cánh hoa sao xoay xoay rớt. Thứ bổng thấy nhớ quê nhà cũng có những hàng sao cao và những bông sao cũng xoay rớt trong cơn gió như bầu trời ở đây. Hai năm rồi từ khi ra trường đến nay hai năm liền ăn Tết xa nhà. Hơn hai năm chàng đánh liều với cuộc chiến hung hản. Ngày- ngày đi không nghĩ, bước chân chàng rãi khắp trận địa Tiền Giang. Bao nhiêu đồng đội ra đi. Bao nhiêu giọt nước mắt tuôn trào. Bao nhiêu gang tất tử thần treo ngang mặt. Bao nhiêu nỗi hận thù đỏ mắt rượu cay. Cuộc đời Thứ cứ xoay như những bông sao trong gió rơi về đâu?! chắc sẽ không hẹn hò trong cuộc trường chinh khũng khiếp nầy!.Cái chết của đồng đội, cái chết của kẻ thù. Ôi! oan khiêng !...cùng là người Việt Nam máu đỏ da vàng!
Người dân ở giữa hai lằng đạn. Chết! Chết ! Chết đầy phố chợ. Chết khắp xóm thôn. Chết ngẩn ngơ. Chết bất ngờ. Họ có tội tình gì đâu!?
         Hình như Thứ thiếp đi một lúc lâu. Khi chợt thức giấc thì trời đã đứng trưa, nắng xuyên kẻ lá, chiếu thẳng vào mắt làm chàng phải nhắm lại và ngồi lên. Chiếc máy truyền tin kêu rè rè. Thứ hỏi người hiệu thính viên: Có lệnh gì không? người lính nói thưa không Thiếu úy. Hồi nảy Trung úy đại đội trưởng họp ở Tiểu khu về có ghé đây, nhưng thấy Thiếu úy ngủ ngon. Trung úy nói để Thiếu úy ngủ. Trung úy về chi khu rồi. Người hiệu thính viên nói một hơi. Thứ vung vai và đứng lên. Từ phía đường dẫn vô đình, một chiếc xe Jeeff vừa mới đến. Phan bước ra khỏi xe, nó nhìn dáo dát và cuối cùng nó nhận ra Thứ đang ngồi trên võng ở phía tay mặt  cách nơi đậu xe vài mươi thước. Phan gọi lớn: Ê Thứ đi ăn cơm mầy!.
          Tối hôm đó, khoảng 9 giờ V.C tấn công đồn T.B.T. Cái đồn nầy là nơi án ngự còn đường chuyển quân của V.C cho nên bằng mọi giá bọn chúng muốn nhổ cái gai nầy.Nhưng biết bao lần tấn công,chúng đều bị thất bại. Tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ. Súng cối ở Hậu cứ Đại đội bắn yểm trợ liên tục,trái sáng  đỏ rực một góc trời. Đại đội được báo động và di chuyển về gần hậu cứ. Khoảng giữa khuya tiếng súng thưa dần. Thứ được biết toán biệt kích PRU của Ông Hoa phục bên ngoài cách đồn hơn 500 mét đã điều động tới kịp thời đẩy lui được cuộc tấn công của V.C.Trung đội của ông Hoa rất cơ động và là nỗi khiếp đãm của bọn du kích trong vùng. Chúng từng lên án tử hình ông  Hoa. Ông là con cưng của tỉnh. Trung Đội của ông được trang bị vũ khí mới và hỏa lục rất hùng hậu. Lính của ông gan dạ, chiến đấu rất lì. Và tài điều quân của ông thật xuất thần. Chúng lên án sẽ tiêu trừ ông bằng mọi giá, nhưng chẵng làm được gì ông. Mấy lần Thứ có gặp ông, một người ốm gầy, bình dị và rất chân tình  .
         Sáng mùng một Tết, doanh trại có vẻ náo nhiệt hơn vì hôm nay cấm trại toàn bộ lính phải túc trực, chỉ những trường hợp đặc biệt tứ thân phụ mẩu mới được rời trại .Căn trại nào cũng ồn ào vì lính tráng bày tiệc nhậu.Mặc dầu có lệnh cấm rượu chè trong lúc cấm trại, nhưng đại đội cũng hơi du di cho lính. Hưu chiến! Thời khắc ngắn ngủi cho đời lính tử sinh khôn lường được có một chút an vui. Nhưng cái an vui trong tạm bợ vì kẻ thù đang rình rập và tấn công bất ngờ như hồi Tết Mậu Thân. Hưu chiến! cái giá treo cái nhãn nhân đạo, phía sau là mủi súng câm thù !.
         Thứ đang ngồi uống càfê ở cái quán nhỏ trong doanh trại thì Phan đến nói: Đi ra ngoài chợ làm vài chai mầy. Thứ đứng dậy trả tiền và cùng Phan đi ra. Khi đi ngang Hội- Đồng xã Thứ thấy một bà lão dẩn đứa nhỏ vừa mới bước qua cổng vào. Đứa nhỏ đưa tay lên gãi đầu. Thứ sửng sốt đứng lại nhìn kỷ thêm. Thứ lầm bầm…đúng rồi! bà lão mà Thứ đã gặp lúc đi hành quân cách nay gần một năm. Đứa bé cụt hai ngón tay …. Thứ tin chắc mình không thể lầm được…mà bà lão vào trong ấy để làm gì?Phan giục  Đi mậy! nhìn ai trong đó vậy?. Thứ ngần ngừ nhưng rồi thôi, bước theo Phan ra chợ. Khi ra tới nhà ga thì Thứ thấy một đám đông bu quanh một gốc sân.Thứ chưa hỏi gì thì Phan nói: Lính của ông Hoa mới khiêng về một tên V.C bỏ xác hồi tối khi tấn công đồn T.B.T chưa kịp kéo xác đi. Thứ thấy một nỗi bất nhẩn trào dâng trong lòng….!? Hai người vào quán. Thứ uống một hơi không ngừng nghĩ. Uống để xua tan những nỗi buồn úp chụp xuống như cơn thác lủ. Khi ra khỏi quán, trời đã xế chiều. Thứ và Phan đi ngất ngư về trại. Khi đi ngang nhà ga, bây giờ mọi người đã tản mát, chỉ còn lại bà lão và đứa bé mà hồi chiều Thứ thấy ở trước cổng Hội Đồng Xã. Bà lão ôm mặt khóc, còn đứa bé đứng nhìn bà lão như vô tâm. Thứ bước tới gọi : Bà ơi! cái xác nầy là gì của bà? Bà khóc róng lên:Trời ơi!con tôi vô tội ông ơi!Nó đâu phải là V.C!  Nó vô tội mà !!!!
        Đêm đó Thứ về nhà và tiếp tục uống rượu với Phan.Uống! Uống cho hết đau thương. Hình như có lúc Thứ nghêu ngao “Tôi có chờ đâu có đợi đâu đem chi xuân đến gợi thêm sầu”! Ừ! ta sầu ta uống…
                                                                     *Thơ Chế lan Viên
                                                                       Tân-Hiệp 1969
                                                                 (  Hai mùa Xuân xa nhà )

No comments:

Post a Comment

NHỮNG ĐOẢN VĂN

BÓNG NHỚ

Anh Hai thường than thở: “Sao cứ mỗi khi Tết về là nhớ nhà quá chừng. Nhà ở đây là chốn quê hương ở Việt Nam. Một nơi mà anh Hai đã bỏ đi gần hơn 40 năm rồi. Hồi đó thời gian sao mà nó dài quá chừng. Năm năm học trường Quận. Năm năm lên trường Tỉnh. Mấy năm trên Sài Gòn. Anh thấy sao mà nhiều kỷ niệm quá…hình như đầy ấp theo những ngày tháng đó. Anh nhớ bạn bè, anh nhớ mái trường, lớp học. Anh nhớ từng con phố, ngỏ hẻm. Anh nhớ biết bao nhiêu chiều thứ Bảy, Chúa Nhật dạo phố Sài Gòn. Anh nhớ hương vị bò bía, nước mía Viển Đông…Anh nhớ chiều công viên ghế đá với tiếng thầm thì của người yêu… Anh nhớ từng cánh đồng và những con sông. Anh nhớ từng ngọn cỏ, cọng rau. Anh thèm những món ăn rất đạm bạc như cá kho tộ, tô canh chua tép với rau nhiếp, mò om. Anh nhớ tô bún nước lèo ngoài đầu chợ Tỉnh. Anh nhớ trái ổi, trái bần ở dưới quê…Anh nhớ từng khuôn mặt trong mái ấm gia đình…Anh nhớ đủ thứ hết. Mỗi lần nhớ là hình bóng những thứ đó cứ lởn vởn trong đầu óc, anh muốn bay về Việt Nam cho thật nhanh…

Rồi một lần anh Hai có dịp về lại Việt Nam. Máy bay quần một vòng từ độ thấp. Anh ngó Sài Gòn ở phía dưới, xe cộ chạy như những đàn kiến bò trên đường. Những ngôi nhà cao, thấp xen lẩn trong ánh nắng ban mai hồng hào. Chiếc máy bay đáp lướt trên đường băng. Anh nhìn bên ngoài còn những dãy rào thép gai và những hầm hố công sự của một thời chiến tranh vẫn còn đó. Bước ra khỏi cánh cửa máy bay.Trời nóng hừng hực. Anh bắt đầu lột áo bớt ra…cho đến khi chỉ còn cái áo ngắn tay mà sao vẫn còn thấy nóng oi cả người. Qua các cửa ải, anh bắt gặp nhiều gương mặt nhìn anh không mấy gì thân thiện. Gặp lại người thân. Anh có được mấy cái ôm thân thiết và nụ cười đầy nước mắt của những người nhà làm anh thấy ấm áp và xúc động vô cùng!

Chiếc xe 12 chổ ngồi mà người nhà mướn từ dưới tỉnh lên rước anh về, chạy trên đường như dồn đống xe hơi, xe gắn máy, cùng khói bụi mịt mù. Anh nghĩ “Chắc như vầy thì làm sao mà anh dám lái xe một mình đi trên các con đường nầy”. Đi qua các đường phố, anh cố nhìn cho kỷ, nhưng chẵng biết đâu là các con phố quen ngày xưa. Anh cứ hỏi hết đường nầy đến đường khác. Thằng em của anh

chỉ trỏ và nhắc các tên đường…nhưng anh không còn thấy bóng dáng nào của những con đường thân quen thuở xưa…

Về tới quê, nơi căn nhà của ba má anh thuở xưa thì vẫn còn nguyên như cũ, mọi thứ có hơi thay đổi đôi chút nhưng tuyệt nhiên nếu nhấm mắt lại anh cũng sẽ đi từ trước ra tới sau bếp…đều nầy làm anh xúc động đến rưng rưng hai giọt nước mắt…

Đứa em dâu nấu buổi cơm với mấy món mà thiếm biết anh rất thích thuở hơn 40 năm trước. Cơm nóng, canh nóng cộng với cái nóng của căn nhà. Anh vừa ăn vừa lau mồ hôi. Đứa em trai hỏi: Uống chút rượu nghe anh …Anh lắc đầu nói: Nóng thấy mồ uống gì zdô…

Suốt hơn gần 3 tuần lể trôi qua, anh Hai có dịp đi đây đi đó. Ở mọi nơi chốn đều đổi thay, không còn như anh tưởng. Anh ăn uống nhiều thứ…nhưng… thấy sao mà không ngon như lúc trước. Cả tô bún nước lèo thịt heo quay mà anh thích nhất cũng vậy…Anh nghĩ chắc tại ở bểnh mình ăn đầy đủ quá rồi đâm ngán …?

Ra Giêng, vào ngày đám giổ ba của anh. Bà con nội ngoại, chòm xóm tới nhà nhộn nhịp. Các bà mỗi người một việc cùng xắng tay nấu nướng ở sau nhà bếp. Cái không khí nồng ấm và hình bóng xưa cứ chạy suốt trong tâm tưởng. Anh hai ngồi nhớ một hồi rất lâu…Anh lấy tay quẹt nước mắt…

Ngày trở lại Mỹ. Chiếc máy bay đáp xuống phi trường. Anh ra khỏi khoang máy bay, bước vào nhà ga với không khí mát rượi. Anh Mỹ đen rà cái pass board xong, ngước lên mỉm cười và nói: Well come back USA…

Chiếc xe hơi thân quen của đứa con ra rước anh chạy trên xa lộ. Anh cảm thấy thoải mái và an toàn vô cùng. Anh Hai hơi đói bụng.Thằng con chở anh đến quán phở quen. Anh ăn ngon lành tô phở gần như cạn nước…

Đêm mới về lại căn nhà ở bên nầy, anh bị mất ngủ vì trái giờ, quen giấc gần hơn cả tháng ở Việt Nam. Anh nằm gát tay lên trán mơ màng…Anh chợt thấy một điều gì đó… hình như là …BÓNG NHỚ vừa hiện ra trong tâm hồn mình…!

H ÌNH NH Ư

Trong thời chiến tranh, anh luôn đối diện với biết bao hiễm nguy của chiến trường. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu đồng đội ngã xuống, biết bao nhiêu đối phương phơi xác trong các hố hầm, biết bao người dân chết oan uổn giữa hai lằn đạn. Anh đã mất đi cái thăng bằng trong cách sống. Anh thiếu vắng thời gian để có cái dịu dàng ấu yếm trong tình yêu, trừ một mối tình trong tuổi còn học trò. Bây giờ anh sống vội vả với những ngày nghĩ phép hoặc những buổi không đi hành quân. Tình yêu tinh khiết dường như không còn ở lại với anh. Anh đến với những cuộc gặp gở bất ngờ. Anh vồ dập với những cơn luyến ái trong hơi men. Lời nói yêu đương chỉ là cái lý giải để anh chiếm đoạt người tình hơn là là sự rung động thật sự của con tim. Từ đó anh vô tình đã để lại bao nhiêu hậu quả cho những người con gái đến với anh: “Nước mắt, sự đau khổ, có cả những hệ lụy trong tai nạn ái ân vội vã đó.” Chiến tranh đã đẩy cuộc đời trai trẻ của anh vào cơn lốc xoấy của cơn lửa táp, đạn vèo. Anh như bị đánh mất bản chất con người của anh trong cơn biến động đó.

Đến một lúc rồi anh cũng phải có vợ. Cưới vợ như là một định kiến của gia đình, thân tộc và định vị lứa đôi của cuộc sống đời thường.

Thời gian trôi nhanh…Anh nhìn về phía trước một đoạn đường lấp ló buổi chiều tàn. Đôi lúc anh quay đầu nhìn về quá khứ. Một thời gian dài hơn 40 làm vợ chồng đã trôi qua trong bao gian truân khốn khó...Bây giờ hai người đã già, không còn đi làm nữa. Con cái đã có gia đình và có cơ ngơi ổn định. Hai bóng già lặng lẻ sống bên nhau trong gia đình càng lúc càng tróng vắng…. Không biết có phải vì biến thái của tuổi già hay vì tính khí khác biệt của mỗi người mà sự va chạm thường xuyên có dịp khoấy lên..? Có một cái lực vô hình nào đó đẩy mỗi người mỗi ngày một xa. Cái xa không phải là khoảng cách mà xa trong tình cảm …? Suốt hơn 2 năm vợ chồng sống chung nhà, nhưng mỗi người mỗi phòng riêng.Sự gìao tiếp với nhau bề ngoài cũng rất bình thường vì bổn phận làm cha, làm mẹ với những đứa con, làm ông bà với những đứa cháu và vì sự giao tế bạn bè thân thích. Nói tóm lại, mỗi người ráng đóng vai trò cho thích hợp với mọi hoàn cảnh. Đến một ngày vợ anh bệnh nặng và tách hẳn về nhà đứa con gái để tiện viêc chăm sóc, thì sự xa cách bị đẩy xa thêm.Thỉnh thoảng anh về bên nhà con gái để giúp đưa vợ đi nhà thương hoặc làm một vài cử chỉ nặng về phần an ủi nghĩa tình, dù sao 2 người cũng có mấy chục năm chăn gối.

Mấy năm liền anh sống trong căn phòng đơn chiếc với những sinh hoạt tự túc châm lo cho mình và thằng con út còn đi học. Thời giờ còn lại, anh tìm quên trên bàn máy vi tính với những bạn ảo trên Net và trên Facebook. Những bài thơ, những bài văn lúc nầy được trải ra nhiều hơn. Khoảng lấp nầy cũng chỉ giới hạn chừng mực nào đó…còn lại nỗi cô đơn của tuổi xế chiều đang còn sức luyến ái, đôi lúc bậc dậy trong anh những cơn thèm khát xác thịt. Anh cũng chỉ dằn lòng lại thôi…

Nhiều lúc ngồi một mình, anh nhìn lên khoảng trời mịt mù sương khói, cánh chim nào đó bay trong trời giá lạnh, về một hướng rất xa xăm…. Quỷ thời gian của đời sống không còn bao nhiêu nữa là hết. Anh chợt thấy buồn buồn cho cuộc đời mình…Anh như cánh chim kia cứ bay đi thầm lặng đến cuối chân trời.Trong một khoảng riêng buồn…anh thấy có một nỗi hụt hẩn rất lớn trong tâm hồn… hình như tình yêu thực sự đã mất trong anh tự bao giờ…!?

CUỐI NĂM XỨ NGƯỜI

Do hiện tượng thời tiết, cả gần hơn tháng nay trời cứ mưa liên tục. Mưa không lớn. Mưa rỉ rả. Gió lạnh lùa ngang cây trơ cành bên ngoài. Bầu trời một màu xám mờ. Trời không băng giá, nhưng những cây loại nhiệt đới được đặt bên trong mái hiên nhà sau thì ủ rủ gần như trân mình, bầm lá, mặc dù được che bởi những mảnh nilong.

Buổi sáng ngồi uống cà phê, nhìn cây mai tứ quí nhú mầm nụ hoa. Tháng cuối năm âm lịch sắp hết. Ừ cuối năm rồi! Cuối năm của một khoảng đời gần hết. Cuối năm chập choạng với những ngày lặng lẻ. Cuối năm với cơn mưa lạnh nơi xứ người. Cuối năm tôi co ro như những cành cây nhiệt đới. Cuối năm chẵng có niềm vui nào trổi dậy trong hồn. Cuối năm lẩn thẩn với mớ nghĩ suy quanh quẩn rồi than thở một mình. Cuối năm xứ người sao buồn quá…!

LẨN THẨN 30

Vợ tôi nói: Năm nay tháng 12 thiếu, không có ngày 30 đâu nghe ông! Có đi đâu chơi nhớ về nhà để cúng cơm mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào buổi trưa … Em chuẩn bị mâm ngủ quả để cúng mừng vui năm mới. Anh nhớ mua phong pháo đốt lúc Giao Thừa để xóa đẩy hết những đều không tốt của năm cũ. Nhớ là ngày 29 đó nghe! Tôi ừ ừ ...đàn bà có khác…! Cái gì mà phải nhắc nhở ....năm nào cũng vậy mà….! Nhưng tôi chợt nhớ lời bà xã … năm nay không có ngày 30 đó nghe. Ừ…Ừ… không khéo lại quên mất…Tôi thẩn thờ nhớ: Đêm 30 xưa nơi quê nhà trong thời thơ ấu bên mái gia đình êm ấm. Đêm 30 lê bước trên phố khuya với lòng trỉu nặng tình buồn. Đêm 30 nơi trại lính trong thời chiến tranh với rượu nát tàn canh. Đêm 30 nơi “Trại Cải Tạo” sau ngày 30 tháng Tư với nỗi buồn cho một ngày mai vô định! Đêm 30 nơi đất khách với cảm giác buồn nhớ quê hương. Một nửa cuộc đời nơi quê nhà với bao thăng trằm cay đắng. Một nửa cuộc đời bình lặng nơi đất khách quê người với bao nỗi trằn trọc, thao thức về đất nước quê nhàThoáng chốc đã hơn 70 năm làm người!

Năm nay đón Giao Thừa nhầm ngày 29…Tôi chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó…vì không có ngày 30 “Em đến thăm anh đêm 30…còn đêm nào buồn hơn đêm 30…Anh nói với người phu quét đường…Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”.

SAU NGÀY 30 THÁNG TƯ

Tôi có người anh bà con, ba anh đi kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông hy sinh lúc Hiệp định Geneve vừa ký xong…1954 anh bị đưa ra Bắc lúc anh mới 12 tuổi. Anh thực sự nghĩ cái chết của ba anh bởi lòng yêu nước c ũng nh ư bao nhi êu ng ư ời tham gia kh áng chi ến th ời đ ó. Mấy chục năm ra Bắc, anh bị nhồi nhét lý tưởng Cộng Sản. Họ chèn ép nhân dân và thanh niên miền Bắc vào khung hận thù miền Nam và Đế Quốc Mỹ.Thật sự chủ nghĩa Tự Do của miền Nam và Đế Quốc Mỹ anh chưa bao giờ biết rỏ. Anh bị bưng bít sự thật và chỉ biết qua tuyên truyền là nhân dân miền Nam sống trong áp bức, đói rách, bần cùng…

Tôi được 11 tuổi, sống và lớn lên trong miền Nam. Tôi được đào tạo trong cái nôi Tự Do - Dân Chủ.Thực sự tôi không biết cái giá trị nầy ở mức độ cần thiết là bao nhiêu.Từ lúc nhỏ tôi nghe tuyên truyền chủ nghĩa Công sản là tam vô, là đôc ác, là bần cùng hóa nhân dân.Thực sự tôi không hiểu cái mức độ độc ác của Cộng sản là tới mức nào. Tôi rất mơ hồ khi ngồi trên băng ghế nhà trường, khi vào quân ngũ, cả khi buông súng đầu hàng khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, Tư lệnh tối cao của quân đội hạ lệnh đầu hàng. Tôi và bạn bè đồng ngũ chỉ tức tối vì nghĩ rằng mình đâu dể bị thua bộ đội miền Bắc! Và thêm nữa…Cả miền Nam chắc cũng ngớ như tôi (Chỉ những người Bắc di cư 1954 là hiểu về Cộng Sản qua các cuộc đấu tố và cải cách ruộng đất lúc đó…)

Sau 30 tháng Tư năm 1975 người anh từ miền Bắc về Nam.Việc đầu tiên là anh quá ngỡ ngàn trước một Sài Gòn diểm lệ. Việc thứ hai là căn nhà của má anh là một căn nhà gạch mà anh phải thốt lên: Căn nhà thế nầy phải là cấp bộ Trưởng mới có được…rồi ngày tháng năm kế tiếp…tất cả đã làm anh từ băn khoăn và rồi đến lúc nói với tôi: Bọn mầy để miền Nam bị mất thật uổn…Bây giờ làm sao lấy lại được…?!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Dương Thu Hương ngồi bên lề đường úp mặt khóc vì một Sài Gòn phồn thịnh mà bị mất vào tay ‘Ăn Cướp”…

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 hàng hóa,vật liệu, lúa gạo miền Nam chở ra tiếp tế cho miền Bắc. Thanh niên nam nữ miền Bắc mơ vào Sài Gòn như mơ đi nước ngoài …

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhóm chóp bu lảnh đạo chia nhau làm giàu. Một loại Tư Bản Đỏ mà trong nước gọi là Nhóm Quyền Lợi...sắp bán đứng quê hương cho Tàu….!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 người dân cả nước mất hết Tự Do-Dân Chủ-Nhân quyền…!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975…mới đây nhất một nhà sữ học nổi tiếng trong nước nói đại ý như vầy: “Chế độ Cộng Sản là không tưởng…có đâu mà tiến tới”

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975: AI THẮNG AI….?

Sau gần mấy mươi năm anh em có dịp gặp lại. Anh nói với tôi: “Tao đã bị lừa mấy chục năm khi còn ở ngoài Bắc. Tao bị phản bội sau ngày 30 tháng Tư chính những đồng chí của tao…!.Tôi nói với anh: “Trước đây tôi cầm súng chống Cộng Sản mà chưa biết Cộng Sản thế nào...! Sau ngày 30 tháng Tư, tôi còn mơ hồ về họ..! Lúc tôi biết họ là ai thì đã muộn…Tôi đã bị đánh mât quê hương và bị sống xa tổ quốc…!

Tôi và anh ai buồn hơn ai?


Hoa ơi! Đừng kết trái

Khi mới dọn nhà về, phía sau là một khoảng đất trống.Vợ chồng chúng tôi phát họa một sân sau với vườn rau, cây trái.Vài năm sau, phía sau nhà có vườn rau và cây ăn trái, căn bản là các loại rau ăn hằng ngày: Rau râm, rau húng cây, rau húng lủi, rau dấp cá….Cây ăn trái như chanh, quit, cam, hồng, táo…Thấy đất còn trống chổ nào là tôi tha cây về trồng thêm.Vợ tôi cằn nhằn: “Ông trồng nhiều cây ăn trái, ráng thu dọn lá và mấy trái cây rớt…em lo không kham đâu a..?”. Nói là nói vậy nhưng tới mùa , cây nở hoa, kết trái thì vợ chồng tôi ra vườn sau đi nhìn từng nhánh, từng đóa hoa, chờ cho tới ngày cây đơm trái…nhìn những đọt rau thơm. Chúng tôi hái từng loại trái cây cùng ăn, cùng khen ngon ngọt…Chúng tôi có những cọng rau thơm cho một buổi cả nhà ăn bánh xèo…

Cách đây mấy tuần vợ tôi trở bịnh, lúc tôi còn ở Việt Nam và sắp tới ngày trở về.Tôi biết căn bịnh của vợ tôi trở lại lần nầy khá nghiêm trọng. Tuy nhiên chỉ còn đôi ba ngày nữa, tôi e khó đổi vé bay, nên nán lại…Chỉ việc nầy thôi làm vợ tôi giận hờn và trách cứ…!

Bây giờ vợ tôi phải điều trị lại và phải có sự châm sóc đặc biệt. Con gái tôi nói: “Thôi! Để má về ở với con, con sẽ xin nghĩ vài tháng để lo săn sóc và nấu ăn cho má. Nhà con thích hợp hơn. Khi má khoẻ lại sẽ về nhà ba…”

Mấy mươi năm chung sống. Mấy mươi năm gầy dựng gia đình, nuôi dạy con cái thành người lớn khôn và thành đạt nơi xứ người. Cho dù đời sống chung đụng vợ chồng sao tránh khỏi va chạm, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua…Cái nghĩa tình mấy chục năm gắn bó, làm sao mà dể bức rời.! Đến tuổi hưu, đáng lẻ chúng tôi cùng sống khoẻ mạnh bên nhau để hưởng những ngày còn lại của cuộc đời, cùng chia sẻ vui buồn trong cái quỷ thời gian còn lại không bao nhiêu. Cơn bịnh lần nầy sẽ làm sự sống của vợ tôi đau đớn và bất ổn…Sự kiện nầy làm tôi tan nát cõi lòng và ân hận.

Hôm nay ra vườn sau. Trời vào Xuân đã lâu. Các loại rau nức đất, trổi mình sau mùa lạnh giá, các loại cây ăn trái với chồi non xanh, hoa kết nụ…. Cây cam, cây quít, cây táo… hoa rụng cánh sắp kết trái. …Tôi đi thơ thẩn trong nỗi buồn buồn ray rức. Nhìn lên các cành cây, tôi nói thầm: Hoa ơi! đừng kết trái, năm nầy vắng người vợ thương yêu…Mùa nầy đâu có ai cùng chia sớt niềm vui…!!!

Mùa nầy hoa nở…thôi thành trái

Lòng ta rụng nát những niềm đau

Em ơi! vườn vắng em rồi đó

Hoa trái mùa nầy…Thôi tàn mau!

Cảm giác bềnh bồng

Mùa Đông đến. Khi tôi ngồi uống tách cà phê sáng ngoài hiên sau nhà, nhìn bầu trời như thấp xuống với những đám mây phù thủy vạn hình không rỏ nét. Những cành cây khô trong mù sương đứng trơ trơ, trân mình trong cơn lạnh. Tôi mường tượng một điều gì đó rất xa xăm. Tôi hơi hụt hẩn trong mỗi lần mò về quá khứ.

Bên nhà hàng xóm có tiếng vọng âm thanh của bài hát “Bài Thánh Ca Vô Cùng”. Tôi chợt nghĩ “Mùa Noel” sắp về…Và nhớ về mùa Noel năm xưa…

Trước đây còn đi làm ở một cửa hàng bách hóa. Cứ gần đến Noel là họ mắc dây đèn, trưng bày cây Noel và hàng hóa cho mùa lể gần cả tháng trước. Các món hàng được hứa hẹn là on sale trong ngày 24 tháng 12 và sau ngày 25 tháng 12. Ngày Lể coi như hiện diện ở tôi với chiếc mũ đỏ của ông già Noel để làm dậy lên cái không khí mua bán nhộn nhịp của cái thương hiệu Super Walmart.Từ ngày nghĩ việc về hưu, tôi chỉ lặng lẻ nơi căn nhà, ít muốn giao lưu với ai. Mỗi sáng ngồi uống café một mình. Mỗi ngày lên máy computer để xem tin tức, lướt qua Facebook và viết một vài câu thơ hoặc viết tiếp cái truyện còn dang dở.

Mỗi ngày tôi bềnh bồng với những mớ hoài ức khi nhìn ra ngoài trời mây. Mây cũng bềnh bồng theo từng ý nghĩ chập chùn gợi nhớ...

Khi ngồi trước khung máy. Tôi bềnh bồng với hình ảnh, chữ nghĩa. Tôi bềnh bồng với những nghĩ suy. Tôi theo với những dòng chữ. Tôi theo với ngón tay đưa đẩy con mouse. Tôi theo với cái kéo mủi tên lấp thêm mớ chữ vào bài viết. Ở đó là quá khứ. Ở đó, là hình ảnh của một thời rất xa xưa. Ở đó, là từng chập mây khói bay qua trong cảm giác và hiện rỏ qua dòng chữ. Có khi tôi chợt khóc. Có khi tôi chợt vui. Có khi tôi xao xuyến. Có khi tôi rạo rực. Có khi tôi ngộp thở...Tôi miên mang với từng ngón tay trên phím chữ. Ký ức dội về trong “Dòng Trôi Cuộc Đời”…Bản thảo viết về cuộc đời của tôi.

Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ ngưng tay. Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ hết còn suy nghĩ.Tôi thả thân nằm xuống, xuôi bỏ cuộc đời..! Lúc nầy hồn tôi sẽ bềnh bồng vào cõi hư vô. Hiện tại và quá khứ sẽ chỉ còn ở lại với những dòng chữ bềnh bồng…Không biết có đáng giá gì không? Nhưng ít ra tôi biết, tôi đã làm một điều mà tôi rất thích.Chỉ có vậy thôi…!

LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH

Viết tặng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Tôi vốn người gốc miền Tây Nam Bộ,…Thuở nhỏ tôi mê văn Hồ Biểu Chánh, tôi khoái văn vẻ của ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, sau nầy là Hồ Trường An. Tôi thích cái mộc mạc của người miền Nam, đặc sệt những âm điệu dân dã qua các câu chuyện. Sau nầy khi lớn lên, tôi đọc nhiều tác phẫm của các nhà văn khắp xứ của miền Nam trước năm 1975. Nhưng cái cảm giác ăn sâu vào tâm não vẫn là những tác giã mà tôi thích như nói ở trên. Khi ra nước ngoài tôi mang theo một số tác phẫm còn ít oi sót lại trên kệ sách để ở nhà của ba má ở dưới quê, những trang sách với những chữ in bằng khung in chì trên những trang giấy in đã biến thành úa vàng…Tôi trân quí các quyển sách đó và lâu lâu đem ra đọc…Lúc đọc, tôi bắt nhớ nhiều thứ vụn vặt vào cái thời thanh niên mới lớn của mình, như khi ra nhà sách Khai Trí, đi chộn rộn vào những chiều thứ Bảy qua những kệ sách bên dưới cho tới tần lầu phía trên….Thời gian đó tôi tập sự viết văn, thay vì làm thơ như mọi khi…Tôi muốn viết theo phong cách của những nhà văn mà tôi thích. Tôi viết đâu đó vài cái truyện ngắn…Tôi đọc đi đọc lại thấy kỳ kỳ, rồi xé bỏ vì muốn bắt chước mà không được…văn nó phát ra từ nguồn cảm hứng và thể hiện bản chất tự nhiên của người đó, bắt chước làm gì, mà có được cái giãi gì đâu…?Nghĩ vậy tôi bỏ viết truyện luôn. Sau nầy tôi có viết lại nhưng là từ cách viết nhật ký, rồi quen dần viết truyện ngắn qua cách thể hiện như viết nhật ký…viết từ cuộc sống của tôi và tôi vui vẻ ở lại với dòng viết nầy…

Khi qua Mỹ, vì bận bịu với công ăn việc làm, tôi đã bỏ hết thú đọc sách và bỏ luôn chữ nghĩa. Tôi chỉ đọc thoáng qua mấy tờ báo biếu về tin tức và vài mẫu chuyện cũ in lại. Cho đến một hôm ra nhà sách, tôi cầm lên một quyển sách mỏng với tựa là “Cánh Đồng Bất Tận”. Anh chủ quán ngó về phía anh và nói:Anh mua quyển nầy về đọc đi, anh bạn của tôi mới về Việt Nam mang qua vài cuốn cho tôi bán thử.Vốn là người không ưa mấy quyển sách của các tác giả viết sau năm 1975 vì đa số viết theo chánh sách và chỉ đạo của nhà nước. Tôi tò mò lật đọc vài trang…Tôi lại đọc tiếp, một sự thu hút quá nhanh đến với tôi qua những dòng chữ đặc sệt miền Nam.Tôi ngưng đọc và thầm nghĩ phải mua quyển sách nầy về nhà đọc mới tận hưởng hết những cảm giác mà từ lâu rồi tôi mới bắt lại được…Từ đó tôi đâm mê giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư và viết thư về cho đứa cháu ở Sài Gòn tìm mua các quyển sách mà Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gời qua bên nầy để đọc. Thời gian sau nầy khi bắt trớn viết lại, tôi hay làm thơ, viết văn và giao lưu trên Net…Cách đây hơn 2 năm, tôi bắt gặp Nguyễn Ngọc Tư trên Face Book và mò tìm thấy Bloggs của cô. Tôi liên kết vào trang Bloggs của Tư và từ đó tôi đọc bài viết của Tư trên Net. Biết cô còn trẻ, sinh sau năm 1975, tôi càng ái mộ cô về cách thể hiện tâm trạng của cô qua các bài viết ngắn, rất đổi đời thường, nhưng phản ảnh được cái xã hội của miền Nam sau năm 1975, nhất là các đề tài quanh quẩn nơi cô sinh sống, đất Cà Mau…Nơi chốn, sau 1975 tôi là một người tù”Cải Tạo”. Đầm mình trong những tháng ngày nơi vùng đất U Minh “Muổi kêu như sáo thổi-Đỉa lềnh như bánh canh”.Thời gian nầy tôi tiếp xúc được với người dân U Minh.Ban đầu họ còn xa cách và hận thù với những người của chế độc cũ, dần dà họ thân thiết và thật sự có cái nhìn khác về những người lính VNCH.Có một dịp ghé nhà một người dân., tôi thấy một em bé cở hơn 10 tuổi, ngồi cậm cuôi viết chữ I,T, một em lớn hơn chắc là chị của bé đang ngồi trả lời vài câu hỏi trong bài văn.Tôi thấy thương cho các em, tới tuổi nầy mới được cấp sách đến trường. Thấy tôi nhìn vào trang sách, em nói:Chú ơi! dùm góp ý với cháu để trả lời câu hỏi nầy “ Trong thời chiến tranh, một anh du kích giết được 4 tên lính ngụy, một anh khác giết thêm 5 tên lính ngụy…câu hỏi:Vậy ta đã giết tổng cộng được là bao nhiêu tên lính ngụy”.Tôi đọc câu hởi với sự khó chịu trong lòng mà không nói gì cả.Tôi buồn buồn cho một thế hệ con trẻ với cái lối dạy dổ lòng câm thù và nuôi lòng câm thù của nhà cầm quyền mới cho các cháu mà thực sự các cháu không biết.Thấy tôi ngần ngừ, mẹ của cháu nói:Mầy ráng làm đi đừng hỏi chú ấy…!

Thời gian trôi qua, bây giờ tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư trên Net, tôi chợt nhớ về chuyện cũ, vào thời đó chắc cô cũng chỉ vài tuổi và cũng từng học như vậy khi đến tuổi đi học…Bây giờ cô lớn lên, cô thực sự thấy bao điều của vùng đất cô ở, những thay đổi quá ngao ngán của một xã hội “Ưu Việt”mà sản sinh ra những con người quá dã man, những con người cho là vĩ đại mà rất đốn hèn…Những bài viết của cô làm tôi say mê đọc. Với một gốc nhìn không quá bi quan về những mầm non trổi lên mạnh mẻ trong bùn đất, bật lớn tươi tắn dưới ánh mặt trời chân lý, làm một con người chân chính trong một xã hội đầy dẩy bất lương.


MÙI TẾT

Hồi còn nhỏ, ở quê nhà…Lúc đó tôi cỡ hơn 10 tuổi.Mỗi năm cứ vào gần hết tháng 12, gió từ cánh đồng phía tuốt ngoài ruộng, sau nhà thờ Tin Lành thổi về với mùi rơm rạ còn mới.Mùa lúa vừa gặt xong còn trơ những gốc rạ và những vũng nước bùn.Cái mùi nồng nồng, hăng hắt đưa vào hai cánh mũi của tôi.…Gió từ bờ sông phía bên kia nhà lồng chợ, cũng đưa thêm về cái man mát gay gây. Những cơn gió cuối năm đôi khi thốc mạnh làm cuộn lên những dề cát cuốn ụp vào người, tôi bụm hai tay che mắt. Lúc đó, tôi nôn nao trong lòng vì biết rằng Tết sắp về…Ba má sẽ sắm cho tôi bộ đồ mới.Tôi sẽ có một mớ tiền lì xì từ ba má và bà con thân thuộc…

Bọn trẻ con chúng tôi thì mừng rở, còn người lớn thì cứ than thở : “Mới đó mà Tết tới nữa rồi…!”. Người lớn thi tất bật gồng gánh, buôn bán quanh năm…công việc cứ bề bề ra, lo chưa xong thì Tết lại đến. Bọn con nít như chúng tôi thì lại mong Tết về…đâu biết gì mà lo…

Gần sát ngày Tết, mặc dù vẫn còn bận rộn với công việc buôn bán, má tôi cũng dành thời gian lo ngâm gạo, ngâm nếp, phơi lá chuối để gói bánh ích, bánh tét. Chưng xong bánh tét, bánh ít đem treo trên giàn, thì đến lo đánh bột làm bánh bông lan…

Lúc còn nhỏ, tôi thường quanh quẩn bên má để giúp má hoặc để má sai vặt. Là đứa con trai lớn trong nhà, tôi thấy má làm một mình cực quá nên không nở bỏ đi bắn cu li với bạn bè mà ở nhà phụ một tay với má. Nồi bánh Tét xôi ùn ục…má kêu tôi thêm củi, tôi đút từng thanh củi vào lò. Má mở nấp nồi thăm chừng. Khói bốc lên nhiều, má nghiêng đầu tránh hơi nước nóng, lấy cây đủa dài xốc trở. Mùi lá chuối xông lên nghe thơm phức. Gần ngày Tết hơn nữa, má cân bột, đếm trứng để làm bánh bông lan, thì tôi phụ đánh trứng, đánh bột. Công việc phụ trợ của tôi được má thưởng cho ăn mấy cái bánh thử nóng hổi hoặc mấy cái bánh bông lan quá lửa, hơi đen đen nhưng thơm phức mùi vanila.

Ba bớt đi giao hàng vì cận Tết, ngồi tính sổ sách cuối năm. Hai bên trước cửa nhà, ba đặt hai chậu bông cúc nở vàng.Trên bàn thờ thì ba chưng bông vạn thọ. Cả nhà tôi thơm mùi bánh, mùi hoa, mùi nhang.

Người lớn ai ai cũng xem ra bề bộn lo lắng, còn bọn trẻ chúng tôi thì thấp thõm đợi ngày 30 Tết được tắm rửa sớm hơn mọi ngày và được ba má để sẳn bộ đồ mới cho ngày mai mặc đi chơi.

Đêm 30 má lo sẳn một dĩa trái cây “Cầu, Dừa, Đủ, xoài(Xài)”và một bình cấm bông vạn thọ. Đúng 12 giờ khuya, phía bên nhà thờ Tin Lành giựt chuông tinh toong. Ngôi chùa Phật phía bên sông đánh trống, bổ chuông in ỏi. Má lâm râm khấn vái trước bàn thờ đặt trước sân. Ba đốt dây pháo đỏ treo trên nhánh cây trước nhà, châm ngòi nổ đì đùng…Cả xóm chợ đâu đâu cũng đì đùn tiếng pháo.Tụi con nít chạy hết nhà nầy qua nhà khác lượm pháo lép hoặc chưa nổ kip bỏ vào túi áo…Có đứa vô ý bỏ vô cái pháo còn đang cháy ngòi, pháo nổ làm cháy áo, phỏng bụng.

Mùi Tết, mùi nhớ quê hương. Mấy chục năm rồi xa xứ. Khi hết tháng 1 mùa Đông còn đang lạnh, máy sưởi trong nhà chạy suốt đêm ngày. Căn nhà trống hoe.Vợ chồng còn tất bậc với công việc ở hảng xưởng. Con cái thì đi học….Đến cận ngày Tết Ta thì mới chạy ra chợ mua bánh chưng bánh tét và vài chậu bông đem về chưng bàn thờ. Chuẩn bị nấu vài món ăn truyền thống như thịt kho, dưa giá…Mùi vị ngày Tết không còn …chỉ còn là nỗi hoài nhớ…Khi qua đêm trừ tịch, hai vợ chồng ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Đêm 30 đi qua…Ngày mai lại tiếp tục đi làm, con cái đi học. Bàn thờ cúng cơm ông bà chỉ là cái bằng chứng để lại với khói nhang thơm nhẹ…Mấy đứa nhỏ còn cằn nhằn “Ba má đốt nhang nên mở cửa… Tụi nhỏ sợ khói nhang làm ngộp thở và hôi nhà…Kêu tụi nó khấn vái trước bà thờ ông bà thì tụi nó chỉ đốt một cây nhang, chấp tay xá xá cho qua việc. Có khi chúng đi làm, đi học thì chỉ hai vợ chồng dọn bàn cúng lạy…mà cũng chỉ nán lại trước bàn thờ vài phút rồi đi lo công việc khác.

Người lớn thì cố giữ lại truyền thống Tết được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu.Còn tụi nhỏ thì…khó quá! Tôi đâm nghĩ “Khi đám già cuốn gói về đất hết thì chắc tụi nó cũng quên cái vụ Tết nhứt nầy “Thật ra thì tụi nhỏ đâu có cái mùi Tết như mình có hồi từ thuở nhỏ đế mà nhớ…!

HỐI HẢ CUỐI ĐỜI

Trong đời người có biết bao nhiêu lần hối hả. Có những hối hả lo toan, nếu mình chưa hoàn tất với cái mức quy định của công việc hoặc thời gian thì mình có thể làm tiếp sau đó.Tuy nhiên có một sự hối hả mà mình phải hoàn tất, nếu không thì mình sẽ không có cơ hội để hoàn tất. Đó là sự hối hả của những ngày gần cuối cuộc đời. Quỹ thời gian của cuộc sống không còn bao nhiêu.Sự bất chợt rủi ro của tuổi già có khi vô chừng, khó đoán, cho nên sự hối hả như một điều thúc đẩy người tôi cố nghĩ, cố lọc lựa những gì mình cần phải hoàn tất trong khi có thể làm được, còn chừa một khoảng rủi ro nào đó mà thần chết giáng xuống mình bất thình lình.Cái quan trọng mà tôi phải làm trước đó là món nợ văn chương vướng lụy mấy chục năm qua, từ lúc biết làm thơ, viết nhật ký của tuổi 15, cho đến nay tóc đã nghiêng màu trắng. Cuộc bể dâu đã làm cuộc đời tôi nổi trôi thăng trầm. Cùng với thăng trầm đó là những dòng văn, những dòng thơ được trải ra trên giấy năm xưa và trên dòng Net ngày nay.

Tôi muốn nó ở lại đời khi tôi ra đi.Tôi muốn nó ở lại với thân quyến, bạn bè và theo linh hồn tôi về tận miền miên viển nào đó.

Tôi viết vì tôi, vì người thân và bạn bè.Tôi không ham muốn làm nhà văn, nhà thơ.

Tôi là một người muốn trải lòng ra để giải tỏa nỗi lòng cho chính tôi và chia sẻ với những người thương mến tôi bằng chữ nghĩa.Còn lại những thứ khác, nếu tôi chưa làm hết thì có người khác làm thế cho tôi.

Tôi muốn chính tôi phải hoàn tất những dòng chữ mà tôi đã viết, thành từng tập.

Tôi muốn được nhìn thấy nó đã thành hình.

Chỉ duy nhất có điều nầy làm tôi hối hả để hoàn tất trước lúc chia tay với đời sống nầy.

TÌNH NET

Ngày xửa ngày xưa, lúc còn mài đủn quần trong lớp học. Lúc đó khi yêu nhau người ta thường viết thư trao đổi tình yêu qua trang giấy học trò, kha khá hơn nữa là những mảnh giấy màu mõng. Thông thường rất kín đáo trao cho nhau bằng tay chứ ít khi gởi bằng thư từ, vì sợ bị lộ Khi ba má bắt được thư thì có mà bị tẩm quất hay la rầy một trận: “Còn nhỏ mà không lo học hành…ở đó mà yêu…Từ nay phải chấm dứt nghe con….phải lo học hành trước đã…” nghĩa là cha mẹ có quyền cấm con cái đi vào đường yêu đương và dỉ nhiên mấy tờ giấy viết sẽ bị xé nát và cho vào sọt rác. Tình yêu trai gái thuở đó cũng thường chỉ quanh quẩn trong xóm làng, quẩn quanh nơi phố chợ, ít khi xa ngàn dậm…? Với đà phát triển nhanh của khoa học qua các bàn máy vi tính và qua hệ thống Net, sư liên kết của con người vượt xa khoảng cách, vượt biển trời bao la để tìm đến nhau qua E-mail, tin nhắn. Các bậc cha mẹ ngày nay không còn kiểm soát con cái theo cái kiểu ngày xưa nữa, mà có kiểm soát cũng không được, đành phải chấp nhận một cách miển cưởng, bó tay, đành chịu…!

Các trang nối kết như hệ thống của các nhóm trên yahoo.com các trang mạng liên kết như facebook…đã làm mọi người trên khắp thế giới gần nhau hơn, thư từ, tin nhắn, hình ảnh chỉ chuyển trong tích tắt….Từ đó hình thành những mối tình ảo, vượt không gian mà yêu nhau. Sự trao đổi đôi lúc màu mè công chúng (public) sau đó chuyển qua nơi kín đáo hơn bằng Chát (Messenger). Có nhiều mối tình Net đến với nhau dịu dàng trên Net và rồi sau đó hẹn hò gặp mặt nhau, đôi khi hợp ý thì tiến tới hôn nhân thật sự, cũng có những quái quâm vở khóc vở cười khi đối diện với sự thật phủ phàng, hình em, anh trên Net thì quá đẹp…hoặc trí tưởng tượng về người yêu quá toàn vẹn, khi gặp nhau bị vở mộng…Chẳng hạng nàng hoặc chàng đi đứng cà thọt, ăn nói thì ấp a ấp úng ngọng nghệu…Có những mối tình chỉ cốt bẹo kéo nhau để cho qua buổi trng vắng của những ông bà ở tuổi về hưu, có nhiều thời giờ ngồi trước máy vi tính chát để đốt thời gian. Cũng có những cảnh ông bà đang sống ung dung với nhau mà lại ngoại tình trên Net. Ông một cái máy, bà một cái máy mặc tình mà chát yêu, chát quái. Mỗi người tìm thời gian thích hợp mà chát để khỏi bị lụy phiền, để khỏi bị khám phá…!Tân tiến hơn, mỗi người có một cái máy điện thoại thông minh…lúc nầy mặc tình mà liên kết, ở mọi nơi, ở mọi lúc, tha hồ ông chát, bà chát, con chát, rể chát, dâu chát…mọi người đều có cơ hôi ẩn náo riêng tư mà liên kết với nhau.

Tình yêu trên Net lại hình thành nhiều tình huống khác nhau và từ đó nở rộ ra các nhà thơ, nhà văn bất đắc dỉ với những bài thơ, bài văn gạ trao tình yêu vô cùng lãng mạng, đôi khi vô cùng Sến hằng ngày dán lên các trang mạng. Xin mở ngoặt phân ra các bậc đàn anh, các bạn văn, thi sĩ thực thụ dán lên nhiều bài viết rất giá trị để trao đổi với nhau. Nhờ đó tôi hân hạnh gặp được nhiềc bậc đàn anh, đàn chị v à bạn bè mà tôi rất quý mến. Cũng từ trên Net, có nhiền vụ lừa đão tình yêu….phờ phỉnh tình yêu xảy ra…tình ảo mà….có ai kiểm tra được đâu?! Mà thực ra có chết thằng Tây nào đâu với mấy dấu hiệu trái tim gởi cho nhau kèm qua các lời nói âu yếm…sống động hơn là những con vật nhả ra hằng hà sa số trái tim yêu qua ảnh gif. Có mất đồng nào khi gởi những bó hoa hoặc quà cáp trên Net. Ôi thời đại tân tiến! Ôi thời đại tình Net, tình Ảo… Thôi thì cứ phất phơ vào Net để đốt thời gian nhàn hạ. Mua vui cũng được một vài trống canh!Phải không các bạn?


MỘT MÌNH

Từ ngày bà xã tui xách gói đi ngủ riêng tới giờ …tôi cảm thấy mình thoải mái hơn. Chẵng là vì, khi lớn tuổi lúc trở trời trở gió mình mẩy ê ẫm, xương cốt hết đau khớp nầy, chạy qua khớp khác. Đêm ngủ chung giường với bà xã nhiều khi lấy tay đấm chồ nầy, bóp chổ khác trên cơ thể mình, hoặc xoay trở lặn lộn cho đở mõi…Bà xã tức mình càu nhàu “Cái ông nầy làm gì mà rục rịch sáng đêm làm sao người ta ngủ được!”.Tránh lời rên rỉ của bà xã…tôi cố gắng trân mình chịu đau hoặc trở mình nhè nhẹ. Nhưng làm sao khỏi nhúc nhích đôi chút được…!Mặc dù tôi đã mua chiếc nệm theo quảng cáo: Ông nhúc nhich–bà không bị nhúc nhích. Bà xã của tôi vẫn phàn nàn vì sự lăn trở của tôi.Tôi hơi quạu bởi vì mình cố gắng chịu đựng cái thân thể bất tuân như ý rồi mà còn bị cằn nhằn hoài. Tôi nói: “Tại bà khó ngủ chứ đâu phải tại tôi…hồi nẫm đôi khi ngủ say sưa bà còn ngáy khò kho.Tui có nói gì bà đâu? Vợ tôi nói: Hồi đó khác, bi giờ nầy khác…!Tôi chịu lép vế nằm làm thinh.

Ban đêm vì không ngủ được tôi cứ ngồi bật dậy đi tiểu…cái gì quá kỳ cục, cứ đi tiểu vừa xong vào giường nằm một chút lại muốn mắc tiểu nữa….Bà xã cầu nhàu “Cứ leo lên, bước xuống giường và dội cầu hoài làm sao ai mà ngủ cho được…!Đi khám bác sĩ đi.Coi chừng bị ung thư tuyến tiền liệt đó.(Chuyện nầy khỏi lo vì tôi đi khám rồi…tại uống nước nhiều-khi ngủ hỏng được thường là như vậy…).

Chưa kể nhiều khi xem một cái phim hay, mình muốn coi cho hết, bã rên rỉ: Làm ơn tắt cái TV cho người ta ngủ...ngày mai còn phải đi làm.Tôi cụt hứng tắt cái TV.

Còn nữa, tôi hay hứng tình với nàng thơ. Khi một ý thơ nào đó hay hay hiện ra trong đầu, tôi bậc cái máy vi tính lên và ngồi hằng giờ để làm thơ hoặc viết truyện… luôn thể đọc mail của bạn bè gởi cho mình và trả lời, đôi lúc đọc nhiều bài thơ hoặc bài viết hay mình góp ý. Vợ tôi lại than thở tiếp vì mấy tiếng cộc cạch của bàn phím khi tôi gỏ chữ.

Nhiều lúc bà xã tôi lại tò mò xem tôi làm cái gì trên máy vi tính mà ngày nào cũng mở máy và ngồi ngâm rất lâu. Vợ tôi nghe câu chuyện mấy lão niên cứ lên mạng chát chiếc với mấy em “Cỏ Non” ở Việt Nam…lâu ngày đâm mê mệt và hẹn hò kiếm chuyện về bên đó mà du dương.

Có một ông sau khi đi về Việt Nam nhiều chuyến, khi trở lại Mỹ tuyên bố ly dị bà vợ tắm mẵm ở bên nầy. Dĩ nhiên của cải do vợ chồng gầy dựng bấy lâu bị chia tứ tán. Con cái lớn khuyên cha, nhưng vì quá mê “Cỏ Non” ở Việt Nam rồi nên nhất quyết không nghe ai hết. Chàng già về xứ Việt làm đám cưới linh đình và bảo lảnh em sang Mỹ. Bà vợ mất một căn chung cư… để ông chồng đem con vợ nhí sang hú hí. Buồn quá bà đâm ra điên điên bởi lẻ ông chồng của bà rất hiền lành, sống mấy chục năm ông luôn là người chồng gương mẫu.Hai vợ chồng mở tiệm Nail &Tóc, bà bận rộn với việc làm, ông tận tụy giúp bà từ việc lớn đến việc nhỏ.Hai người chí thú lo làm ăn nên mua được một căn nhà và sau đó là một dãy chung cư gồm 10 căn hộ.Suốt ngày ông cứ quanh quẩn ở tiệm giúp bà điều hành công việc.Tối đến ông làm sổ sách. Bà rất thương yêu chồng và tin chồng hết mực…nhưng ở đời ai đâu có ngờ! Người lù đù “Vát lu mà chạy” ít nói như ông chồng bà lại giở chứng hồi nào mà bà không biết được.Chừng đổ bể ra sau mấy chuyến về thăm bà mẹ già của ỗng còn ở Việt Nam…Ông đòi ly dị và chia của.Bà giử căn nhà và cái tiệm, còn ông thì giử cái chung cư.Bà vô cùng đau khổ vì sự bất ngờ nầy nên đâm ra như người mất trí. Bà tức khí vì mất ông chồng thương yêu rất mực của bà“ Đồ con “quỉ cái cướp chồng bà còn nhởn nhơ hưởng phần mồ hôi nước mắt của bà…trước mắt bà!”.

Tôi không đồng tình với mấy việc như vây.Vợ chồng tay dắt, tay níu con thơ với hai bàn tay trắng sang đây.Vợ chồng xây dựng gia đình từ con số không.Tính từ thời gian bước đầu đến khi cơ ngơi khá ổn định, con cái học hành đỗ đạt và có việc làm, đó là công lao lặng lôi thân cò của vợ chồng tôi trên đất mới nầy.Với tôi…tôi rất trân quý những ân tình của vợ tôi đã khổ cực từ lúc đời tôi đầy gian nan khi còn trong nước và đã góp tay khó nhọc cùng tôi từng năm tháng xây dựng tổ ấm nơi xứ người nầy. Ai mà lại vô cảm-vô tâm phụ rảy ân tình nầy.Tuy nhiên “Ớt nào là ớt không cay- vợ nào là vợ chẳng hay ghen chồng” Với sự nghi ngờ và có thể cũng để đề phòng trước vì thấy tôi sao cứ tối ngày lên mạng hoài nhiều lần vợ tôi nhìn vào khung màn ảnh máy vi tính phía sau lưng tôi để dò xét.Tôi nghĩ chắc mẫm là bà xã tôi nghi ngờ tôi chát chiếc với ai đó, có bao giờ bà xã tôi tò mò để xem văn vẽ của tôi đâu!.Chưa bao giờ thơ văn của tôi lọt vào đôi mắt của nàng…! Mặc tôi mơ mơ, màng màng những chuyện năm xửa năm xưa với nhiều hồi tưởng qua những dòng thơ tình sướt mướt hay tưởng tượng một câu chuyện tình lâm ly nào đó để kết thành văn vẻ đậm tình éo le–lâm ly hoặc đổ vỡ.Tôi đoan chắc vợ tôi chẳng thèm ngó ngàng đến thơ văn của tôi cho dù có đem quyển thơ hay quyển văn của tôi đặt trước mặt.Nhưng từ ngày bà xã tôi giao lưu với bạn bè trong trang Web Trung Học Chợ Lách…tôi có bài vỡ tham gia.Bạn bè của vợ tôi đọc bài của tôi không biết khen thiệt hay chỉ động viên…bà xã cũng dừng mắt đọc thơ văn của tôi cho biết sự tình….Cám ơn trang Web vì tôi có một đọc giã bất đắc dĩ:VỢ TÔI!…!

Người ta thường nói: Sự thành công của người chồng luôn luôn có bóng dáng của người vợ hổ trợ. Tôi nói trại ra: “Sự thành công của các người cầm viết (Văn-Thơ-nhạc-kịch ) phía sau luôn luôn có bóng dáng của các người vợ thông cảm và chịu đựng”. Trong một cuộc phỏng vấn, vợ của nhạc sĩ Anh Bằng có nói: Ổng đi đâu thì đi và làm cái gì thì làm…khi về nhà ổng là của tôi là được rồi…”.Riêng bà xã tôi thì nói: Ông làm cái gì thì làm…nếu lựng bựng gì đó với ai… hể tôi biết được là tôi cho ông đi tàu suốt.Hồi trẻ mình rơi có người hứng lấy còn bây giờ già khú đế rồi ai mà lượm…!Lời phán hơi nặng ký như vậy…có ngán không quý bạn…? Tôi ngán lắm đó…cho nên néu lỡ ăn vụn thì chùi miệng liền hà!

Từ lâu tôi có thói quen …khi đang say sưa với những dòng thơ hoặc lời văn đang hiện ra trong đầu rồi gỏ những dòng chữ hiện ra trên màn ảnh mà bị ai đó dòm ngó là tôi mất hứng và bị khựng lại…Một hôm không dằn được cơn bực bội .Tôi nói với vợ tôi: “Từ nay tôi muốn bà để tôi yên khi ngồi vào bàn máy vi tính làm việc nghe...! Bà xã giận bỏ đi một nước và nói: Ừ tôi đi ngủ riêng…để ông thanh thơi muốn làm gì thì làm…! Và vợ tôi thu dọn ra phòng riêng từ hôm đó.

Chúng tôi ngủ cách ly nhưng sinh hoạt gia đình cũng đều hòa. Mấy đứa con biết lý do má tụi nó ra riêng không phải vì chúng tôi giận hờn nhau mà vì lý do tôi lớn tuổi khó ngủ cứ cựa quậy lung tung làm má tụi nó ngủ hỏng được…!

Mấy ngày đầu ngủ một mình, tôi thấy thiếu thiếu hơi hướm ba xã…vì mấy chục năm ngủ chung giường với nhau rồi chớ bộ …!“Thia thia quen chậu-Vợ chồng quen hơi” mà. Nhiều đêm giật mình mở mắt nhìn bên cạnh, thiếu bà xã cũng thấy lạnh lẻo cõi lòng “Ghe lui còn để dấu dằm-Người thương đi vắng dấu nằm còn đây”.

Mấy lúc sau nầy bà xã tôi hay đi chùa nghe các thầy thuyết pháp. Hồi trước ăn chay một tháng 4 ngày…dần dà ăn gần suốt tháng. Bà xã tôi khoe:Từ ngày ăn chay đến giờ thấy trong người được khoẻ hơn: đường, mỡ, trong máu giãm, ấp xuất huyết giãm.Thế là vợ tôi gần như trường chay. Phòng của vợ tôi gần như là tịnh thất…

Vợ tôi ăn chay, đọc kinh, đi chùa và ngủ chay. Dỉ nhiên tôi cũng đành ngủ chay dài dài…!Tôi tập ăn chay để giãm nhiệt cơ thể cũng chưa đến nỗi của tôi…hơi ngặt chứ bộ…!Nhưng lâu dần cũng quen!

Một mình trong căn phòng rộng, trên chiếc giường King-size(Giường lớn dành cho vợ chồng ngủ chung) tôi thoải mái tự tung tự tác: Đấm lưng, đấm bóp chân tay thả ga, đôi lúc ngồi lên nhấm mắt tọa thiền hoặc uốn éo cho phẻ gân cốt ...không sợ ai rầy rà. Nhiều phim hay cứ thoải mái xem cho tới hết…Bật máy vi tính cộc cạch thỏa thích để làm thơ tình, viết truyện yêu đương… Khi ngồi vào bàn cầu ...đọc báo, đọc thơ cũng không ai hối thúc.(Cái thú đọc mọi văn tự mà tôi vớ được khi vào nhà vệ sinh là một thói quen của tôi khó mà bỏ được). Kể ra Một Mình đâu phải cô đơn...!

Huỳnh Tâm Hoài

Cali đầu năm dương lịch 2014