Saturday, June 29, 2013

Tự sát





TỰ SÁT





 1-     Gã đàn ông mặt tai tái vì bịnh sốt rét rừng, hắn ta là trưởng phòng tổ chức của trường trung học mà Thúy đang dạy.Vào gần cuối giờ của tiết dạy cuối. Hắn đứng ngoài cửa lớp nói vói vô: Sau giờ, mời cô đến văn phòng tôi làm việc. Lúc nầy trường tan học, học sinh đã ra về. Thúy đi suốt dãy hành lang vắng và suy nghỉ miên mang,
không biết thằng cha nầy có việc gì mà lại gọi mình đi họp lúc trường tan học. Mấy lúc nầy tin đồn các cô giáo có chồng đi học cải tạo bị cho thôi việc. Thúy nghĩ chắc hắn nói với mình về việc nầy vì chồng Thúy là sĩ quan chế độ củ đang bị nhốt ở trại “ cải tạo” ? Phòng làm việc của hắn ngoài cái bàn cái ghế còn có cái giường ngủ được kê một bên đối diện với cái bàn. Trên tường hắn đóng đinh mắc vài bộ đồ cũ và cái nón cối. Khi bước vào phòng Thúy đứng lơ ngơ ngay khung cửa, chưa dám bước vào hẳn vì thấy hắn đang nằm trên giuờng.Thúy chợt nhớ mình quên gỏ cửa từ bên ngoài. Thấy cô, hắn ngồi dậy và nói: Mời cô vào.Thúy đứng ở một gốc phía gần cánh cửa. Hắn đứng dậy bước sang ngồi trên chiếc ghế và nói : Cô ngồi đây, hắn chỉ cái giường mà hắn vừa rời, cô cứ tự nhiên vì còn mới quá tôi chưa được phân phối chổ ở nên tạm ngủ luôn ở đây. Thúy nói: Để em đứng được rồi. Hắn nói: Chuyện dài dòng cô nên ngồi vào đi. Thúy ngần ngừ. Hắn giục dã. Thúy dí đích ngồi ở mép giường. Hắn mỡ tập sách hồ sơ một hồi rồi ngước mặt lên hỏi: chồng của cô là Đại- úy ngụy quân phải không?Thúy không trả lời mà nói: Trong lý lịch trích ngang em đã khai rỏ. Hắn gật gật cái đầu. Hắn ngồi im lặng, một tay đưa vào túi móc ra một gói thuốc rê. Hắn mở gói thuốc- bóc một nhúm nhỏ- tách một manh giấy- bỏ nhúm thuốc vào- hắn vấn thuốc- thè lưởi liếm liếm mép giấy-Tay hắn xoe xoe điếu thuốc. Hắn bật quẹt lửa mồi vào đầu thuốc co dúm. Hắn đưa vào môi mấp mấp. Hắn rít một hơi... Hắn ngước mặt lên trần phòng làm việc. Hắn phà khói tõa một vùng. Thúy lấy tay che mũi, nín thở và ho khúc khúc trong cổ họng. Mùi thuốc hăng hắc vẫn lọt vào họng. Thúy nghe muốn nôn mửa, nhưng cố giử lại. Hắn nhìn cô từ trên xuống dưới và dừng ở đó giữa hai háng. Sau giãi phóng các cô giáo không còn được măc áo dài đi dạy. Mọi người chỉ được mặc áo bà ba và quần đen.Chiếc quần bằng lụa đen mỏng lúc Thúy mới mặc đi dạy lần đầu bọn học trò lớn thường nhìn châm châm lúc nàng đi ngược gió. Thúy thấy ngượng ngùng làm sao! trước đây thì có vạc áo dài che phủ bên ngoài, nên dù có mõng nhưng vẫn kín đáo. Thúy thấy mình hơi hớ hênh. Nàng vội khép đôi chân lại. Hình như Thúy nghe hắn nuốt nước bọt. Hắn chậm rải nói: Cô đừng lo, ông anh đi học tập cho biết chánh sách nhà nước một thời gian rồi sẽ đuợc khoan hồng trở về xum hợp với gia đình. Phần cô từ nay ráng phấn đấu học tập chánh sách, đường lối cách mạng. Đạo đức cách mạng của người thầy giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa rất tốt.Thầy cô giáo có chức năng cao quí là trồng người cho chế độ ta, chế độ ưu việt cách mạng…Hắn nói một hơi dài trong lúc cập mắt hắn không chịu rời cập đùi của Thúy. Thúy thấy khó chịu, cứng đơ, nhột nhạt và nghe lùng bùng trong lổ tai những câu hắn vừa tuôn ra. Một hồi lâu,Thúy đứng dậy nói: xin phép anh hai em phải về lo cho hai đứa con em, em cố gắng làm theo lời chỉ dạy của anh. Thúy đứng dậy. Hắn đứng dậy: Tôi nói chưa hết, cô ngồi lại một chút.Thúy thấy tình cảnh hơi gây cấn nhưng cố đứng lại. Hắn bước vội đến bên cô, đặt hai tay lên vai và đẩy cô ngồi xuống. Thúy chưa kịp phản ứng thì hắn vồ ôm Thúy. Nàng bị chới với và té ngửa ngang trên giường. Hắn úp chụp người hắn lên người cô với hơi thở dồn dập. Thúy co tay đẩy mạnh hắn bật xuống một bên giường. Nàng bật ngồi dậy và chạy miết về nhà với nỗi tức tưởi đau đớn. Nàng về nhà chạy ngay vào buồn tắm. Nàng xối nước ào ào vào người như muốn gột rửa ngay cái hôi hám của mùi thuốc, cái xàm sở của hắn trên thân thể của mình, cái tên giảng dạy về “Đạo đức cách mạng” !? “Tân ơi! em lâm vào cảnh ngộ tủi nhục trong lúc anh nằm trong cơn đau đớn của kẻ buông gươm thua trận. Bây giờ em phải làm gì đây để sống qua giai đoạn đầy bi uẩn nầy hở anh? Em không thể tiếp tục đi dạy cùng với bọn người vô học mà làm ra vẻ dạy đời. Họ nói với nhau  mà con bạn em nghe lén “Ê mấy đứa ở ngoài nầy đứa nào đứa nấy nhìn muốn chãy nước miếng, nhứt là bọn vợ con của bọn sĩ quan ngụy…phải đè tụi nó để trả thù! Chút xíu nửa em đả bị trả thù. Còn anh thì bị họ trả thù như thế nào? Lòng thù hận của bọn chiến thắng sẽ đi đến đâu? Anh! Em! chúng ta chịu đựng được đến chừng nào đây? Thúy nghĩ đến hai đứa con còn thơ dại và mẹ chồng với đôi mắt cườm chướng gần như mù lòa. Nước mắt nàng tuôn chảy ràng rụa. Phải làm sao đây hở Tân!? Trước đây mọi việc đều do anh quyết định từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ nhất nhất mọi đều phó thác cho anh. Bây giờ thì anh trong vòng lao lý không biết rồi đây sống chết thế nào? Còn em thì nguy khốn bủa vây. Em thấy mình nhỏ nhoi, yếu kém. Em sợ hải trong tình huống nầy quá anh ơi!
                Suốt đêm hôm đó Thúy ngủ chập chờn trong nhiều cơn mộng buồn bã và chợp mở mắt khi trời nắng rực sáng xuyên qua cửa sổ. Hai đứa con của Thúy đã thức hồi nào. Thúy nghe chúng nói chuyện với bà nội ở phòng ăn. Chắc má chồng Thúy đang cho các cháu ăn sáng. Thúy thấy đầu nặng trỉu như muốn nhốm bịnh. Nhưng rồi nàng phải ngồi dậy và đi ra nhà sau làm vệ sinh buổi sáng. Khi đi ngang qua ba bà cháu, má chồng Thúy hỏi: hôm nay con không đi dạy sao? Thúy dạ. Bà hỏi tiếp: Hôm nay con bị bịnh hả?.Thúy đứng lại và nói: Má ơi! con  nghĩ luôn rồi! Mẹ chồng nàng làm thinh. Một lát sau bà nói : Má nghe người ta nói vợ sĩ quan bị cho nghĩ việc mà! Thúy ậm ừ khi đang đánh răng. Thúy nghĩ sẽ không bao giờ nói cho má biết về việc xảy ra ngày hôm qua ở trường.

   2-  Theo thông báo của Ủy Ban Quân Quản thì Tân cùng các sĩ quan trong toàn tỉnh lần lược đi trình diện và bị nhốt vào trại tù của tỉnh. Đêm cuối cùng trước khi đi trình diện. Hai vợ chồng Thúy thức như gần tới sáng. Tân dùng dằng không muốn đi. Anh muốn trốn về quê anh ở Bình-Dương. Anh nói:
-Hồi nhỏ anh vào Sài-Gòn học rồi đi lính. Anh làm việc
ở đây, lâu lâu về thăm nhà với bộ quần áo thường phục. Ở đó không ai biết anh là sĩ quan đâu.
-Không phải đơn giản vậy đâu anh. Nếu họ phát giác ra,
thì anh còn mang thêm tội trốn tránh nửa thì sao?  
            Cuối cùng sáng hôm đó Thúy đi chợ mua cho Tân một ít thuốc cãm cúm, một vài chai dầu gió, hai bộ đồ củ. Thúy bỏ tất cả vào chiếc võ đệm. Trưa hôm đó Tân đi trình diện. Chàng nói theo thông báo thì chỉ tập trung học trong 10 ngày rồi cho về em đừng lo, nhà ráng lo cho hai con và má anh. Chàng hôn Thúy, hôn hai đứa con và nói lời an ủi má anh. Anh đi. Thúy muốn theo anh đi đến nơi trình diện. Nhưng thôi!.Thúy nhìn Tân đi khuất đầu con hẽm. Nàng ôm hai con và khóc sướt! Tân tự bước chân vào nhà tù! 
              Khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố  đầu hàng trên đài phát thanh Sài-Gòn đã làm tan rã ý chí của cã tập thể quân đội miền Nam. Cuộc xáo trộn trở nên hỗn loạn và nỗi tuyệt vọng đến cao điễm trong hàng ngũ quân đội các cấp. Các tướng lãnh chỉ huy bỏ trốn trên các chuyến trực thăng ra các hạm đội Mỹ đậu ngoài khơi. Các tân binh ở các quân trường cỡi áo lính ùn chạy ra ngoài trở về quê quán. Phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Xe tăng của Cộng Sản tiến về Sài-Gòn. Mọi người trong phút ngơ ngát đã buồn bã chấp nhận một sự kiên đã xong! Thôi thì đã hết chiến tranh rồi, không còn chết chóc nửa có ra sao thì ra! .“Cũng đành” là một cách tự sát tập thễ của cả miền Nam Việt-Nam trong cách nhìn nào đó…!?
             Cái giáo đầu: “Các anh tham gia ngụy quân chóng phá cách mạng. Tội các anh là tội trời không dung đất không tha, là tội chết! lẽ ra các anh bị đền tội trước cách mạng và nhân dân, nhưng để thực hiện chánh sách khoan hồng, các được tập trung cải tạo để hiểu rỏ chánh sách của đảng và nhà nước. Sau nầy, khi các anh học tập tốt, trở về với gia đình, sẽ thành người tốt để phục vụ cho đất nước”. Mọi người tuần tự trình diện với lời hứa hẹn học tập trong 10 ngày ri về. Có người tin, có người nghi ngại, nhưng không còn cách chọn lựa nào khác. Phải đành!...Cánh cửa tù đống sầm lại!...Ngơ ngát!..Sầu hận!...Thúc thủ!..Cam lòng!
              Căn phòng bề ngang chừng 4 mét bề sâu chừng 10 mét nhét hơn 40 tù nhân. Lúc đứng bên ngoài chờ “anh đội” mở cánh cửa sắt. Tân nhìn vào bên trong thấy mọi người nằm quay đầu về phía tường hai chân đối nhau, khoảng giửa còn lại vài ba tấc, có người ngồi với tấm thân trần hoặc dựa lưng vào tường mắt nhìn lên trần nhà buồn bã. Có người đứng nhìn ra chờ Tân vào.  Khi cánh cửa đóng sầm lại Tân thấy mình như bị quay vòng vòng với nhiều bất nhẩn, đau đớn. Các bạn bạn tù vây quanh hỏi:
              - Ê!-bạn bên ngoài có nghe gì không ông? chừng nào học không?…Mấy người làm ở bệnh viện vô chắc lớp học sắp bắt đầu?.....Tân bị hụt hẩn và trả lời:
              -Tôi chỉ nghe nói vào đây tập trung học 10 ngày rồi được về! Tụi nầy xin một ít thuốc phòng thân, nhưng ban chỉ huy bệnh viện nói cho thuốc 10 ngày thôi. Họ nói: Các anh đâu có đi lâu mà xin nhiều! Nghe tôi nói như vậy các bạn tù ai cũng lộ vẻ vui mừng…họ cũng nghe như vậy trước khi vào đây. Họ ở trong nầy hơn 20 ngày rồi! Có anh ngao ngán nói: “Hai mươi mấy ngày rồi có thấy gì đâu mấy cha!?”
            Trong căn phòng chật chội, nực nồng hơi người. Người nằm, ngồi hai hàng đối đầu trên các manh chiếu nối nhau cho tới cuối phòng là cái thùng phuy dùng để tiểu tiện. Cái nắp đậy hở hang, làm mùi hôi thúi bốc lên nồng nặc. Có lẻ Tân là người sau chót vào phòng nầy. Cái lý do là được Ban Giám Đốc Quân Quản bệnh viện giử lại hơn 20 ngày là để bàn giao. Chàng được “trưởng phòng” chỉ cho cái chổ nằm sát cái thùng phuy. Suốt mấy đêm lúc mới vào, chàng phải thức đến khuya chờ mọi người đái, ỉa xong rồi mới lao chùi nền xi măng và kéo chiếu ra nằm. Nhưng chỉ mơ mơ màn màn đôi chút thì có người bò tới tiểu tiện. Mặc dù họ cố rón rén bò và mở nấp nhẹ nhàng. Nhưng …cái mùi hôi thúi từ cái thùng mở ra bốc lên, tràn vào mủi. Tân ho sặc sụa và muốn nôn mửa ra. Chàng cố ém lại, nhưng thật sự chắc chàng chẵng mửa được, bởi trong bụng chàng không còn gì. Buổi ăn từ 11 giờ sáng đến giờ đã không còn! Cơn đau bụng quặn thắt. Tân ứa nước mắt…!!! Chỉ một bửa ăn duy nhất! mọi người chẳng riêng gì Tân đều bị cơn đói làm phờ người, lăn trở trong cơn quặn đau vì đói.
          Mỗi ngày mỗi người chỉ được phát một lon nước cho tắm gội và một lon nước nóng để uống. Ban đầu mọi người không biết phải làm sao đủ cho cái lon nước tắm gội. Dần dà cũng tìm ra cách. Dùng miếng vãi nylon trãi ra, lấy mấy chiếc dép ngăn nước chảy ra ngoài và dùng khăn nhỏ thắm nước lau đi lau lại cho đến khi lon nước cạn. Sau cùng túm miếng nylon đem đổ vô thùng cầu. Sáng 10giờ mỗi ngày, mọi người được ra ngoài chạy tại chổ khoảng nửa giờ. Đây là dịp cho tù nhìn lại các bạn khác phòng và cùng nhỏ to vài ba câu hụt hẩn!
         Trong phòng lúc đầu mọi người cùng nhau tâm sự nhập nhằng, nhưng sau đó một vài người đã bị mời lên “làm việc”. Sự nghi kỵ lẩn nhau bắt đầu lan ra. Một vài bạn tù tự nhiên được ưu đãi và được đề cử làm trưỡng phòng hoặc ra ngoài với công việc nhà bếp, anh nuôi, có người tối ngủ trong còng sắt chử U, có người bị dời đi đâu không biết!?Rồi các buổi họp trước giờ ngủ, ca hát mấy bản nhạc mới  “Giãi phóng miền Nam”, “Bác cùng chúng cháu hành quânvang vang….Không khí trong phòng trở nên ãm đạm càng ãm đạm hơn với các chiêu từ từ mở ra, tròng vào đầu mọi người. Mười ngày trôi qua. Một tháng trôi qua…bao điều ước đoán trôi qua…! Mọi người thấy cái viển ảnh buồn thãm cho một cuộc “tự tra chân vào cùm” và cố gắng thích nghi theo từng biến chuyển “bóp thật chặt, mỡ ra từ từ, và bóp lại..” Cái lối trừng trị nầy làm cho con người tự an ủi mình trong so sánh với đồng bạn, rồi từ từ bị tha hóa, bị mất hết bản tính tự tại của mình, chấp nhận hiện trạng như một vâng lời định số. Mọi người đi tới “Cũng đành” mặc nhiên chấp nhận những biện pháp trừng trị tinh vi của bọn cai tù  với mỹ danh là cán bộ cải tạo vì lẻ người ta không còn cách nào để chọn lựa!.
          Để tránh những cơn đói có người nhắn được ra ngoài cho gia đình xin đem vài mớ cơm phơi khô hoặc cốm dẹp để ăn khi đói. Ban đầu ban quản giáo trại không cho. Họ nói: “Để Cách Mạng lo”. Nhưng vài tháng sau họ đổi ý và cho thân nhân gởi các đồ ăn vào: như tôm khô, cơm khô, cốm dẹp…dần dà với cái đà đó các bà vợ bên ngoài khéo léo gởi được gạo vào. Các bạn bè trong phòng nẩy ra sáng kiến làm lò để nấu cơm trưa. Ban đầu dùng lon Guygoz đựng gạo nước và dùng bao nylon đốt lên để nấu. Nhưng cách nầy bị “anh đội” ngửi ra mùi khói hôi của bao nylon khi cháy bốc lên. Các phòng bị khám. Gạo bị tịch thu, lò nấu bị quăng bỏ. Im đi một thời gian các bạn nẩy ra sáng kiến khác lấy lon Guygoz làm thành lò nấu bằng dầu. Bên trong nhờ các bạn làm nhà bếp bên ngoài khéo lo, đã chuyển được dầu vào và từ đó mỗi trưa mọi người lén nấu cơm ăn. Tuy nhiên thỉnh thoảng họ khám phòng và lấy đi mấy cái lò. Có người dùng bao nylon gói lò lại nhận vào thùng cầu, khám xong lấy ra xài tiếp. Trước cái đói hành hạ, người ta làm mọi thứ để có miếng ăn. Khi nấu nướng phải có người canh chừng ngoài cửa….Tội cho các bà vợ bên ngoài cứ hằng ngày họ thay phiên nhau ngồi núp ló đâu đó trước cổng tù để nghe ngóng tin chồng và liên lạc với các “anh nuôi” ra ngoài chợ mua đồ cho trại hoặc đi đổ phân. Có hôm các bà đã gởi vào các ổ bánh mì được gói kỷ trong nhiều lớp nylon bỏ vào thùng phân đem vào cho chồng.Trước cơn thèm đói, họ bốc ra ăn ngon lành. Tân được anh bạn chia cho một góc bánh, chàng ngần ngừ, nhưng trước sự nhiệt tình của bạn. Chàng ăn cũng thấy ngon lạ! Cái lối trừng trị có vẽ nhẹ nhàng nhưng rất thâm độc. Mọi người lo cái đói, nghĩ đến cái đói làm sao cho được no nên đi chuyện ở tù lướt đi….!
         Mấy tháng trôi qua. Họ thấy việc giam giử  tù nhân không xảy ra chuyện gì đáng ngại cho nên dần dà họ cũng dễ dãi đôi chút ….Đến lúc nầy thì Tân và một số bạn khác “được” đưa về Quận Phước-Long vùng Chắc Băng Cạnh Đền để lao động “vinh quang”.Họ nói: Các anh được chọn đi lao động là các anh thưộc thành phần ít ác ôn. Sau khi lao động một thời gian các anh sẽ được cho về sum hợp với gia đình. Khoảng hơn trăm người đa số là sĩ quan làm ở các phòng ban hoặc các bộ phận chuyên môn như  quân y, truyền tin, quân nhu…được xe chở đi vào một buổi sáng trong bầu trời u ám của mùa thu sắp về!.
         Sau hai tháng cật lực gian khổ với đồng hoang, ruộng vắng. Đội lao động đốt rẩy, làm ruộng, cất nhà, đấp đường, lập trại. Một buổi tối hơn trăm người được lệnh tập hợp. Sau khi “Biểu dương thành tích” cán bộ trại cho biết có lệnh trở về…về đâu!....con đường xum hợp gia đình….? Không! Hơn trăm người sau nhiều giờ băng đồng, đi ghe cuối cùng lên xe đi về trại tù! Lại sống trong chiếc hòm tường gạch!
        Tin đồn nầy, tin đồn nọ. Nhiều quả mù được tung ra….Và cuối cùng toàn trại chuyển lên Cần Thơ sau khi tách rời một số sỉ quan cấp cao, cấp thấp. Hơn 3000 sỉ quan cấp đại úy  của toàn vùng quân khu 4 vùng 4 chiến thuật tập trung về hậu cứ củ của trung đoàn 33  sư đoàn 21 bộ binh ở Trà Nóc..


Cũng đành một kiếp tù thôi
Đã buông tay súng đánh rơi sơn hà
Còn gì? núi hận máu sôi
Đành ôm tủi nhục nuốt lời thề xưa
Ngày nao còn dưới bóng cờ
Bửa nay cùm gối tắt rồi lửa thiên…!

             Mùa Xuân sắp về, gió lành lạnh từng cơn thổi qua khung cửa hở. Thoảng bên ngoài xa xa nghe vọng lại bài hát “Trên bốn vùng chiến thuật” của nhạc sĩ Trúc Phương và vài bài nhạc cũ khác, toàn là nhạc lính. Hằng đêm từ ngoài vòng rào kẽm gai, tiếng hát của Thanh Thúy, Chế Linh, Duy Khánh cứ vọng vào từ khoảng 10 đến nửa đêm. Không biết tin xuất phát từ đâu? Anh em rỉ tai nhau: Phái đoàn bốn bên gồm: Phái đoàn MTGPMN do bà Nguyễn Thị Bình cùng với các phái đoàn phía Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hoà và Mỷ vào để họp. Tất cả các sĩ quan sẽ được phái đoànViệt Nam Cộng Hòa rướt về. Có người tin, có người nghi ngờ. Tuy nhiên, tin tức được loan ra như một điều gì đó khác thường?. Anh em bàn tán  nhỏ to rồi cũng đi qua.
                Tết lại đến, các láng tổ chức đoán Xuân. Nào Xuân Không quân, Xuân Hải quân…..mỗi binh chủng làm một buổi họp mặt Xuân ca nhạc với các nhạc khí tự chế. Đội múa lân được thành lập, đầu lân cũng được các bạn tự chế. Đoàn lân được lịnh của ban quản giáo trại phải múa ở ban chỉ huy trại trước rồi mới đi đến các láng sau. Nhưng anh trưởng đội lân không làm như vậy. Đoàn lân đi múa các láng trại trước. Mỗi láng trại anh em treo các phẫm vật lủng lẳng trước mỗi phòng  như rau trái và cá nục….toàn là thức ăn do trại cấp phát. Đội lân đi vòng hết các láng về tới trước ban chỉ huy và đốt bỏ tại đây. Việc nầy chứng tỏ sự gan dạ của đội lân “chúng tao không khuất phục bọn mầy!”. Đây là một thách đố ngoạn mục làm tên trưởng trại giận tím mặt. Tối hôm đó đoàn lân bị ban quản giáo trại nhốt vào thùng sắt(conect). Sáng hôm sau có lệnh không đi lao động, mới 7 giờ sáng tất cả trại viên ra khỏi láng . Họ khám trại. Môt số sách báo, thơ văn, dụng cụ cầu cơ…bị tịch thu. Tối hôm đó lại họp trại. Tên thiếu tá trưởng trại tên Song nói: Đất nước ta đã độc lập các anh còn cầu cơ: “non song nhị lộ ra biên trấn” tôi cho các anh vô thùng sắt trấn. Giờ nầy mà các anh còn mơ màng  tìm đường đi liếm gót đế quốc…”.  Conect là một thùng sắt lớn dùng để chứa hàng hoá và di chuyển bằng xe kéo. Thùng sắt bưng bít không có lổ thông hơi, ở hậu cứ trung đoàn trước đây dùng các thùng nầy để chứa đồ. Hai ngày sau có tin một vài anh bị nhốt trong thùng sắt bị ngộp nóng, khi được cho thức ăn nước uống, họ mới hay một số bị xỉu và chết vì bị ngộp và da bị bỏng đỏ. Họ thả các anh còn sống ra và đem vùi dập xác các anh bị chết ở bãi đất trống ngoài rào. Các anh còn sống như những cọng bún thoi thóp tàn tạ với vết bỏng rát khắp mình mẩy.
            Sau Tết, vào một buổi sáng không đi lao động, mọi người nghe tiếng chân chạy rầm rập của bộ đội với tay súng lườm lườm trong tay, vài chiếc thiết  giáp cơ động chạy nhanh qua các láng. Tin miệng qua miệng: Hôm nay thi hành hiệp định Ba Lê, phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà vào rước các sĩ quan về. Một số cả tin vui mừng reo hò, một số lặng lẽ, một số nghi ngờ…? Độ hai tiếng trôi qua. Các bộ đội rút đi. Các xe rút đi.. Chẵng có bàn giao gì đâu!. Một cái bẫy lớn lại được bọn chúng tung ra. Môt số đông anh em làm hội Xuân ca hát hồi Tết, một số anh em vui mừng reo hét tin được rước về? Tất cả bị đưa đi biệt giam mà địa điểm thì chẳng biết ở đâu?
            Sau đó vài ngày thì lại có tin chia trại được rỉ tai. Nhiều quả mù lại được tung ra…Anh em bây giờ dè dặt đề phòng…..Cuối cùng một buổi họp toàn trại được tập họp ở sân vận đông nằm trong khu vực trại. Sau khi lên tiếng bình phẫm thái độ bất tuân của một số anh em. Một toà án được thành lập: Họ tuyến bố tử hình hai trại viên trốn trại Toàn trại lúc trước gồm 4 trại, nay chia làm hai: Trại 1 thuộc các thành phần cấp trưởng và phó như: Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó, Pháo đội trưởng, Pháo đội phó…..và các vị sư, linh mục tuyên úy, các sỉ quan trong ngành an ninh, chiến tranh chánh trị…Họ phân loại nhóm nầy ác ôn đưa ra Bắc. Trại 2 gồm các thành phần còn lại ít nguy hiễm hơn đưa về phương Nam….
             Mùa Xuân đến trong niềm đau đớn tủi nhục của đoàn quân bại trận đầu hàng, lần lượt xuống tàu. Cuộc đời của họ đi về đâu? Họ đã hết đường lựa chọn. Cũng đành! Một thái độ cam chịu đau đớn cùng cực…! Họ thật sự bị mất hết mùa Xuân từ nay!
3-       Thúy thức giấc trong cơn mệt mõi lạ thường. Nàng không muốn ngồi dậy. Nàng như còn mơ màng nhớ lại  giấc chiêm bao lạ lùng đã trãi qua gần như suốt đêm. Có lúc Thúy thấy mình bị chết chìm trong dòng sông chảy siết. Nàng cố ngoi mình, vùng vẩy bơi vào bờ, nhưng nước cuốn xoấy. Nàng bị chìm mất xuống lòng sông. Lúc ấy nàng chợt thức với mồ hôi vả uớt lưng áo. Rồi nàng lại chìm trong cơn mộng khác. Nàng thấy Tân về với nàng. Tân tìu tụy ốm nhom, gương mặt hóc hác. Tân hiển hiện câm nín. Tân nhìn nàng và khóc.Thúy hỏi: Tân ơi! Anh làm sao vậy, chúng hành hạ anh đến nông nổi nầy sao?.Thúy bước tới định ôm Tân thì anh quay mặt và chạy biến mất. Thúy gọi lớn Tân ơi!Tân ơi! Hình như Thúy còn nghe được tiếng mình gọi khi chợt tỉnh cơn mơ. Hai đứa con nàng vẫn ngủ say bên cạnh. Thúy bồi hồi nghĩ không biết điềm gì đây? Có phải Tân bị nạn gì không?! Thúy cố xua đuổi những ý nghỉ xấu ra khỏi đầu. Nàng ôm thằng con nằm kế bên và nước mắt nàng chảy đầm đìa.Thằng nhỏ ú ớ hỏi: Má ơi! Má khóc hả? Nàng nói không có, ngủ đi con…!                
         Thúy đang loay quay xấp xếp đồ trong phòng. Má Tân đi ngang  bà nhìn vào hỏi Thuý:
            - Con hôm nay dậy sớm, có gì mà lục đục bên trong đó?
            - Con soạn mớ quần áo. Lát nửa con đi chợ mua một ít đồ đi thăm anh Tân.
            - Mấy hỗm rày con có nghe tin tức gì về chồng con không?
           Thúy đã soạn xong vài bộ quần áo bỏ vài cái túi xách nhỏ. Nàng đi ra khỏi phòng.Thúy nói với má chồng:
             - Từ ngày chuyển trại lên Cần Thơ tới nay gần tháng. Con chưa nghe tin gì hết, cho nên con định đi chợ mua một ít đồ  ăn mang đi thăm ảnh. Mấy chị bạn rủ con cùng đi. Thúy  dộm bước, nàng nói:
             - Má ở nhà lo dùm con hai đứa nhỏ. Các chị bạn nói họ chỉ cho tiếp tế đồ ăn thôi. Má Tân chặc chặc lưởi:
            - Sao con không cho hai đứa nhỏ đi theo? chắc nó nhớ ba nó và …! Bà ngừng ở đó Hai giọt nước mắt chảy ra từ đôi mắt loà.Thuý nói:
             - Dẩn tụi nhỏ đi  xa cực lắm má! Vã lại không biết có gặp được anh Tân không? để con đi lần nầy, nếu thấy dễ dàng con sẽ dẩn  hai đứa nhỏ vào lần sau.
           Sáng hôm sau Thúy xách giỏ đò ăn ra bến xe mua vé đi Cần Thơ. Trước năm 75
 muốn đi đâu cứ ra bến xe, các lơ xe mời mọc, chỉ có việc hỏi có chổ phía trên không và chạy sớm không? Bây giờ phải đứng xếp hàng dài để mua vé theo tài chuyến. Chổ ngồi thì tùy theo mua vé trước sau, có quen biết nhân viên bán vé thì có chổ tốt bằng không thì rủi mai ráng chịu! Thúy đợi hằng giờ mới cầm được cái vé ngồi hàng ghế sau chót. Xe đến giờ chạy nhưng chiếc xe chỉ nổ máy rào rào chờ rước thêm khách. Các nhân viên bến xe nhìn liếc, cái phụ xe cười trừ và ra dấu gì đó, người nhân viên bỏ đi…một lúc lâu xe rời bến nhưng ra ngoài một chút lại tấp vô lề. Các phụ xe rao la: Ai đi Cần Thơ không? xe chạy liền đây! Cứ như thế chạy nhích đi một khoảng lại rước thêm khách. Khi trên xe đầy ấp người từ hàng giữa xe,  đứng be thêm bên ngoài ,xe mới thực sự chạy. Mặc dù  Thúy đón xe chạy sớm, nhưng nàng đến bến xe Cần Thơ gần trưa, lại phải đón xe lam đi Bình Thủy nơi hậu cứ trung đoàn 33 củ như lời mấy chị đã đi rồi cho biết. Chiếc xe lam cũng chất đầy cứng người, chạy ì ạch tới nơi gần quá trưa Thúy mới xuống xe. Nàng xách giỏ đồ theo tay chỉ của anh tài xế xe lam đi về hướng cổng trại. Từ xa Thúy thấy nhiều chị đứng nhốn nháo ngoài trước cổng. Thúy nhìn đồng hồ lúc nầy gần 1 giờ trưa. Thúy đi vội về hướng ấy vì còn phải nghĩ đến chuyến về có kịp hay không? Thúy vừa tới gần cổng trại thì có vài chị nói vói với Thúy: Mau đi - gần hết giờ thăm rồi đó. Thúy đi như chạy về phía cỗng, vài chị sốt sắn chạy về phía Thúy và chỉ căn nhà nhỏ phía bên gốc trái cổng trại, là nơi mấy ông bộ đội mặt hầm hẩm ngó về Thúy nói giọng Bắc : Nhanh lên nào, hết giờ rồi! Thúy hổn hểnh bước tới một chú bộ đội mặt non choẹt đưa giỏ đồ. Hắn ta chẳng nhìn Thúy và nói: Chị bày đồ ra xét nào! Thúy lấy ra từng món đồ ăn ra để trên mặt bàn. Tên nầy xé ra từng bao nylon đồ ăn. Hắn lùa ra món thịt kho hột vịt và mắng chị: Giờ nầy còn phong lưu tư sản nhỉ ? Ăn cả trứng và thịt trong lúc mọi người tiết kiệm cho sản xuất! Hắn để gói thịt sang một bên. Thúy năn nỉ nói là không biết xin cho được gởi vào các món còn lại! Thúy đưa tay định lấy lại gói thịt kho nhưng hắn nói: Để đó, tôi phải báo cáo lên trên! Hắn nhìn gói thịt xông lên mùi thơm mà hai mép miệng hắn ứa nước miếng! Các chị đứng gần lấy tay khều Thúy nói : Chú đội cho là được rồi chị à! Thúy rụt tay lại và trong lòng mang nhiều thắc mắc không biết như vậy có hại gì cho Tân không? Thấy Thúy còn tần ngần, các chị kêu Thúy trở ra  ngoài, có chị nói nhỏ: Bọn nầy khốn nạn thật, nó giử lại để ăn chứ báo cáo con mẹ gì!
          Thăm nuôi chỉ có vậy! Thúy nghĩ nếu đem hai đứa nhỏ theo thì cũng chẵng gặp được mặt ba nó…lại còn trăm bề khổ ải vì xe cộ. Sau lần đó Thúy có kinh nghiệm hơn, nên không gặp khó khăn nào. Trong những chuyến đi như vậy Thúy lại biết thêm nhiều chị em có chồng kẹt trong trại liên kết chia nhau nghe ngóng tin tức, cho nên Thúy cũng biết nhiều tin liên quan đến Tân. Thúy cũng biết các chị xoay sỡ đi buôn bán theo các chuyến xe đò. Các chị bày cho Thúy mua các đồ ăn từ tỉnh lên Cần Thơ bán lấy lời. Từ lúc đó Thúy có nhiều dịp lên xuống  theo các chuyến xe với vài món đặc sản địa phương như vài ký tôm khô, vài ký thịt bán cho lái là đủ trang trải chi phí đi đứng và đồ ăn cho Tân. Các chị còn bày cho Thúy mua vài món hàng từ Cần Thơ về bỏ cho có sạp ở chợ. Thời gian dần dà đưa Thúy trở thành người buôn bán đường dài lên xuống theo nhiều chuyến xe.Trong sinh  hoạt nào cũng vậy hồi đứng bên ngoài nhìn vào thì thấy khó khăn nhưng khi đã lăn vào rồi thì nó mở ra nhiều cách để xoay sở. Thúy không có cách nào khác để kiếm sống, nuôi chồng nuôi con, nuôi mẹ chồng trong hoàn cảnh trăm cơn ngặt nghèo nầy  “Từ cái khó đẻ ra cái khôn”, việc mua vé xe, câu móc mấy tên lơ xe dấu đút đồ khan hiếm không cho xuất tỉnh trở thành thuần thạo dể dàng. Nhưng đôi lúc cũng bị phát giác bởi đám công an thuế vụ.Tuy nhiên, nếu tính sang qua, sớt lại cũng còn có lời. Bây giờ thì Thúy trở thành người buôn bán thuần thục. Cái nghề bất đắc dỉ mà trước đây chưa bao giờ Thúy nghĩ tới. Bây giờ Thúy ít ở nhà, hai đứa nhỏ để má Tân lo. Ban đầu bà cụ cằn rằng, nhưng rồi cũng thôi. Hai đứa nhỏ ban đầu còn khóc lóc mỗi khi Thúy rời chúng đi sớm về trể. Nhưng rồi, lâu dần cũng quen…
           Một lần thăm nuôi khác, các chị cho biết hình như sắp có chuyện gì đó, có lẻ các anh bị đưa đi xa. Thúy nghe qua có đâm lo, không biết họ đưa Tân đi đâu đây?,nhưng công việc bán buôn không cho phép Thúy ngơi nghỉ. Hàng hóa, lên xuống. Công việc phân phối phải tiếp tục, nếu không sẽ bị mất mối. Nhiều lúc Thúy thấy như mình quên đi Tân vì công việc. “Thúy ơi! mầy đã đánh mất mầy rồi phải không Thúy?” Nàng tự trách mình như vậy...! Cho đến hôm Thúy xách giỏ đồ thăm Tân. Khi xe lam dừng lại cho Thúy xuống, thì lúc đó hàng vài chục chuyến xe nhà binh phủ bít bùng chạy từ cỗng ra ngoài.Thúy đứng bên lề đường. Đoàn xe chạy qua mịt mù khói đen. Thúy bủn rủn tay chân. Nàng nói thầm: “Trể rồi Thúy ơi! chồng mầy bị đày đi xa rồi...!”.Khi đoàn xe chạy hút mất chiếc cuối cùng. Thúy thấy rất đông các chị chạy theo sau khóc....Thúy buôn cái giỏ đồ ăn. Thúy ráo mắt nhìn theo chiếc xe mất hút ở khúc quẹo. Nàng đứng như trời tròng. Buổi trưa nắng lòa đôi mắt khô cứng thất thần! Nàng mới thấy mình bỏ lở bao lần để nhớ chàng, cho dù đó là vô tình.?! Một chị đến gần Thúy trao cho nàng một miếng giấy nhầu xếp. Đó là bức thư của Tân lén ném cho một chị bạn đứng bên ngoài cỗng khi đoàn xe chở tù đi lao động bên ngoài cách nay hơn tuần.
                           Em yêu,
              Anh bị xếp vào danh sách các sỉ quan bị đưa đi phía Bắc, chỉ biết có vậy chớ không biết đi đâu? Anh không ngờ với chức vụ Sĩ quan an ninh bệnh viện bị họ cho là ác ôn thiếu khai báo sự thật....Hai chử an ninh bị cho là loại một khi bị phân loại...! Mọi chuyện đã an bày. Em ở nhà ráng lo cho má anh và hai con. Số phận anh nằm trong số phận chung...biết sao giờ đây!?. Mong em gìn giử và chờ ngày anh về, cho dù bao năm anh cũng sẽ về với mẹ con em! Hôn em.!Tân.
            Thúy đứng như người chết: “Anh Tân ơi!em đã lở chuyến. Em không gởi được món quà do từ công sức vật lộn với việc buôn bán để có món tiền dư mua đồ ăn gởi cho anh, lo cho má và hai con. Anh đi đâu...?! Dù anh ở đâu em cũng tìm thăm anh. Em sẽ làm hết sức mình đễ lo cho gia đình thay anh. Em sẽ là người vợ kiên trung chờ anh –Anh ơi!.....
4-     Thúy bây giờ là một tay buôn đường dài bản lỉnh. Hàng hóa lên xuống của nàng lên bạc triệu. Những chuyến đi của Thúy dài tới Sài-Gòn. Nàng là khách lớn của các chuyến xe. Nàng chi tiền hậu hỉ cho các anh xế bác tài nhờ các anh nầy nên hàng của Thúy đi trơn về lọt. Các bạn hàng khác là những người bạn chỉ dẩn bước đầu cho Thúy cũng chào thua: Quái cái con Thúy nầy hay thật. Hàng của mình bị sạt mà hàng của nó thì trót lọt. Dỉ nhiên sự ganh tị nổ ra.Thúy tỉnh khô! Việc mình, mình làm miễn không đụng tới quyền lợi người khác là được. Người đồn nầy nọ, nhưng Thúy chỉ cười trừ vả lả cho qua chuyện. Hàng của Thúy rãi bán khắp chợ. Thúy giử một đều là không tranh bán với chị em, ai gọi thì Thúy bán. Thúy luôn làm hòa với bạn chung chuyến, nhưng không bao giờ để hé lộ tại sao Thúy vẩn có hàng dài dài, mặc dù nhiều lần hàng của nàng bị sạt .....Nhưng dưới ánh sáng mặt trời không có điều gì được dấu mãi. Người ta biết Thúy thường hay đi lại với Hai Long trưởng ban thuế vụ tỉnh. Hàng người khác bị bắt thì bị trưng thu còn của Thúy thì được đàn em của Hai Long chở xe riêng trong đêm về nhà Thúy. Người ta xầm xì  chắcThúy lẹo tẹo với Hai Long nên mới được nâng đở như vậy.? Thúy nghe cả ngôi chợ rỉ rả chuyện nầy. Thúy tỉnh queo vờ như chẵng nghe, chẵng biết..
            Công việc làm ăn của Thúy phất lên như diều. Tiền bạc khấm khá, nàng lo sửa lại căn nhà và đưa tiền cho  má Tân tiêu xài. Mỗi năm Thúy mua cả đống đồ ăn chở ra Bắc thăm chồng. Với người hòa nhả với gia đình vuông tròn, cho nên Thúy vẩn được lòng mọi người. Chuyện đồn đại chỉ là nghi vấn. Thúy tiết lộ qua loa: Chuyện làm ăn phải biết giao tế mới sống được....! nhưng mọi chuyện vỡ lẻ...một hôm Thúy đãi nhóm của Hai long ăn uống tại nhà, đến quá khuya đàn em ai nấy về, chỉ Hai Long còn lại nhà Thúy. Hai Long giả say đòi ngủ lại. Thúy lấy khăn nước nóng lau mặt cho Hai Long. Hai Long nói trong hơi rượu:
                - Thúy à, trước sau gì người ta cũng biết. Thôi cho anh về ở đây luôn nghe.?
                - Không được đâu anh, còn má anh Tân và hai đứa nhỏ...
                - Anh kiếm mua nhà rồi hai đứa ở....Hai Long ôm Thúy hôn lấy hôn để, bàn tay anh sờ soạn làm Thúy nhột ran người cười khúc khít. Hai Long ghì Thúy chặt hơn, mơn mang, úp chụp... Hai thân thể cuộn nhau...một lúc Thúy rên khe khẻ. Hai Long bật ra ngủ say nhừ trong mê hoặc. Má Tân đêm đó không ngủ được. Mắt cạn khô nhìn đỉnh mùng. Bà buột miệng : Đồ quỉ...!
           Sáng sớm,Thúy dục Hai Long dậy để về. Khi Hai Long rón rén ra khỏi của buồn thì má chồng Thúy đã ngồi nhai trầu ở nhà sau. Mặc dù không thấy gì nhưng bà biết có người vừa ra. Bà dụi mắt như cố xem ai vậy? nhưng có thấy được ai là ai! Thúy biết bà ngồi ở nhà sau, nên khi Hai Long ra về nàng đóng cửa lại và ra sau hỏi:
            -Hôm nay sao má thức sớm vậy? bà ngưng nhai và hỏi Thúy:
            -Hồi tối có người ngủ lại nhà mình hả. Thúy tinh táo nói:
            -Dạ có một người say quá không về được nên ngủ lại…nhưng họ về rồi má. Má Tân nói vậy à!Thúy đi vào nhà tắm. Một lúc sau nàng trở ra và vào buồn riêng thay đồ.Thúy nói chút nửa con đi lo công chuyện má lo dùm hai đứa nhỏ nghe má…!
             Má Tân biết Thúy lẹo tẹo từ đêm đó với Hai Long, nhưng bà nghĩ : Thằng Tân đi biệt biết bao giờ về!? nhờ một tay nó xoay trở lo cho gia đình còn lo đi thăm chồng…. Nó còn trẻ quá làm sao tránh được!. Bà không đồng ý với Thúy chuyện đó, nhưng cũng không quá khe khắc với Thúy. Nó vẫn một tiếng má hai tiếng má có gì thay đổi đâu? Nhưng có điều buồn là khi nghĩ tới thằng Tân con bà. Nó mà biết được thì còn đau khổ nào hơn!
             Giữa tháng 2 năm 83 Tân được trả tự do. Thúy phải ra tận ngoài Bắc đi sâu vào trại làm tờ cam kết với ban quản giáo lảnh chồng về và hứa tiếp tục động viên chồng làm tốt khi về đời sống thường.              
              Từ ngày về, Tân ở nhà quanh quẩn với hai con. Đưa chúng đi học loay quay chuyện nhà. Thúy vẩn tiếp tục công chuyện làm ăn, ít khi nàng ở nhà trừ mấy ngày đầu lúc Tân mới về:
               -Anh ở nhà yên tâm ăn uống cho khỏe người lại, công việc làm ăn của em không thể dừng lại. Từ từ em tìm cách đưa anh và hai đứa nhỏ đi…Nàng quả quyt, anh phải rời đây càng sớm càng tốt để anh yên thân và các con có tương lai. Mọi chuyện em sẽ sắp xếp, anh đừng thắc mắc gì hết. Anh nên nhớ em là vợ anh, em sẳn sàng hy sinh cho anh và con. Tân  rất cãm động trước lời nói khẩn thiết của vợ. Bây giờ anh như bị thụ động trong mọi việc. Thời gian tù tội suốt hơn 8 năm ở nhà tù đã làm anh mềm như cọng bún ướt, mất hết ý lực. Thật sự thì Tân cũng chẵng biết phải xoay trở như thế nào trong cái xã hội đầy thù oán và hổn mang nầy. Tân phó mặc….xem số phận đi đến đâu? 
              Cái ngày mà Tân nghe lời đồn đại là Thúy đi lại với Hai Long cũng là lúc Thúy đã xấp xếp xong mọi chuyện.Tối hôm chuẩn bị đi, Tân không còn tự nén được anh hỏi Thúy về chuyện đó...Thúy nói anh đừng tin bậy bạ. Em yêu chỉ mình anh. Em hy sinh hết đời em vì anh. Mọi chuyện em làm cũng vì anh và hai con. Anh cứ yên tâm. Thúy lúc nào cũng yêu chỉ mình anh. Anh hiểu không Tân? Tân đắn đo muốn hỏi cho ra lẻ, nhưng người dẩn đường đã đến gỏ cửa. Thúy giục dã. Tân xách túi đệm nhỏ đựng một ít quần áo và thuốc men đứng lên. Tân ôm mẹ khóc. Quay sang ôm ghì Thúy trong tay. Thúy nghẹn ngào nói:  Anh và hai con đi đi kẻo bị lộ. Thúy khóc sướt và gở tay Tân ra. Thúy nói với hai con: Hai con nhớ nghe lời ba dạy bảo nghe …! Má sẽ đi sau…!?
           Một tháng sau, Thúy nhận được tin hai cha con Tân đến đảo Galang. Bức thư anh gởi qua Pháp cho người bà con sống bên đó và chuyễn về Việt Nam.
           Bức thư Tân viết ngắn: “Thuyền anh được tàu Mỹ cứu vớt đưa vào đảo Galang. Anh và hai con bình yên.Tin cho em và má hay. Hôn em.Tân và hai con.”.
    

         Thúy đọc thư Tân cho má chồng nghe. Hai mắt mờ thâm của bà trôi hai dòng nước mắt. Bà nói: Cám ơn trời Phật đã độ cho chúng nó! Thúy mừng vui trong thẩn thờ.
             Thúy đã lo cho chồng con đi rồi. Bây giờ nàng chọn cho mình cách sống nào? Nàng sẽ không mong có ngày hội ngộ lại với Tân vì nàng đã gian díu với Hai long, cho dù đó chỉ là cách để nàng thực hiện ý đồ của mình, nhưng nàng vẩn thấy mình không còn xứng đáng với chồng, không đúng nhân cách làm người. Nàng có thể chọn cách đi đâu đó thật xa để ăn đời ở kiếp với Hai Long? Nàng cả quyết... Không! Hai Long chẵng ai xa lạ là tên trưởng ban tổ chức trường trung học khi xưa đã định làm nhục nàng tại phòng hắn cách nay rất lâu. Sau khi Thúy bị bắt một số hàng lớn có thể đi đến tiêu tan sự nghiệp. Biết tên nầy chuyển về làm trưởng phòng thuế vụ nên Thúy tìm gặp hắn, để nhờ hắn lấy số hàng đó ra. Hai Long đã giúp nàng việc nầy nhưng cũng không bỏ lở cơ hội  để chiếm đoạt được Thúy. Kết quả là Thúy đã lợi dụng hắn để thực hiện mọi ý đồ của nàng. Hắn thực sự si mê Thúy và làm theo mọi toan tính của nàng. Thúy đã nuốt câm hờn để thực hiện ý nguyện “Lo cho Tân và hai con được ra nước ngoài”. Mọi chuyện đã kết quả. Nàng chuẩn bị môt bửa tiệc mừng ngày hai người chính thức ăn ở công khai tại ngôi nhà riêng. Bửa tiệc diển ra có một số quan chức trong tỉnh. Tất cả đã chết cùng với Thúy vì ngấm độc dược trong buổi tiệc. Một cuộc Tự Sát. Một cách trả thù trong ý định mà nàng đã vạch sẳn! Má Tân buồn vì nhớ con cháu và chết vài tháng sau cái chết của con dâu . Cha con Tân hiện định cư tại Mỹ…..
                                          (Mùa thu năm 2009)

 









No comments:

Post a Comment

NHỮNG ĐOẢN VĂN

BÓNG NHỚ

Anh Hai thường than thở: “Sao cứ mỗi khi Tết về là nhớ nhà quá chừng. Nhà ở đây là chốn quê hương ở Việt Nam. Một nơi mà anh Hai đã bỏ đi gần hơn 40 năm rồi. Hồi đó thời gian sao mà nó dài quá chừng. Năm năm học trường Quận. Năm năm lên trường Tỉnh. Mấy năm trên Sài Gòn. Anh thấy sao mà nhiều kỷ niệm quá…hình như đầy ấp theo những ngày tháng đó. Anh nhớ bạn bè, anh nhớ mái trường, lớp học. Anh nhớ từng con phố, ngỏ hẻm. Anh nhớ biết bao nhiêu chiều thứ Bảy, Chúa Nhật dạo phố Sài Gòn. Anh nhớ hương vị bò bía, nước mía Viển Đông…Anh nhớ chiều công viên ghế đá với tiếng thầm thì của người yêu… Anh nhớ từng cánh đồng và những con sông. Anh nhớ từng ngọn cỏ, cọng rau. Anh thèm những món ăn rất đạm bạc như cá kho tộ, tô canh chua tép với rau nhiếp, mò om. Anh nhớ tô bún nước lèo ngoài đầu chợ Tỉnh. Anh nhớ trái ổi, trái bần ở dưới quê…Anh nhớ từng khuôn mặt trong mái ấm gia đình…Anh nhớ đủ thứ hết. Mỗi lần nhớ là hình bóng những thứ đó cứ lởn vởn trong đầu óc, anh muốn bay về Việt Nam cho thật nhanh…

Rồi một lần anh Hai có dịp về lại Việt Nam. Máy bay quần một vòng từ độ thấp. Anh ngó Sài Gòn ở phía dưới, xe cộ chạy như những đàn kiến bò trên đường. Những ngôi nhà cao, thấp xen lẩn trong ánh nắng ban mai hồng hào. Chiếc máy bay đáp lướt trên đường băng. Anh nhìn bên ngoài còn những dãy rào thép gai và những hầm hố công sự của một thời chiến tranh vẫn còn đó. Bước ra khỏi cánh cửa máy bay.Trời nóng hừng hực. Anh bắt đầu lột áo bớt ra…cho đến khi chỉ còn cái áo ngắn tay mà sao vẫn còn thấy nóng oi cả người. Qua các cửa ải, anh bắt gặp nhiều gương mặt nhìn anh không mấy gì thân thiện. Gặp lại người thân. Anh có được mấy cái ôm thân thiết và nụ cười đầy nước mắt của những người nhà làm anh thấy ấm áp và xúc động vô cùng!

Chiếc xe 12 chổ ngồi mà người nhà mướn từ dưới tỉnh lên rước anh về, chạy trên đường như dồn đống xe hơi, xe gắn máy, cùng khói bụi mịt mù. Anh nghĩ “Chắc như vầy thì làm sao mà anh dám lái xe một mình đi trên các con đường nầy”. Đi qua các đường phố, anh cố nhìn cho kỷ, nhưng chẵng biết đâu là các con phố quen ngày xưa. Anh cứ hỏi hết đường nầy đến đường khác. Thằng em của anh

chỉ trỏ và nhắc các tên đường…nhưng anh không còn thấy bóng dáng nào của những con đường thân quen thuở xưa…

Về tới quê, nơi căn nhà của ba má anh thuở xưa thì vẫn còn nguyên như cũ, mọi thứ có hơi thay đổi đôi chút nhưng tuyệt nhiên nếu nhấm mắt lại anh cũng sẽ đi từ trước ra tới sau bếp…đều nầy làm anh xúc động đến rưng rưng hai giọt nước mắt…

Đứa em dâu nấu buổi cơm với mấy món mà thiếm biết anh rất thích thuở hơn 40 năm trước. Cơm nóng, canh nóng cộng với cái nóng của căn nhà. Anh vừa ăn vừa lau mồ hôi. Đứa em trai hỏi: Uống chút rượu nghe anh …Anh lắc đầu nói: Nóng thấy mồ uống gì zdô…

Suốt hơn gần 3 tuần lể trôi qua, anh Hai có dịp đi đây đi đó. Ở mọi nơi chốn đều đổi thay, không còn như anh tưởng. Anh ăn uống nhiều thứ…nhưng… thấy sao mà không ngon như lúc trước. Cả tô bún nước lèo thịt heo quay mà anh thích nhất cũng vậy…Anh nghĩ chắc tại ở bểnh mình ăn đầy đủ quá rồi đâm ngán …?

Ra Giêng, vào ngày đám giổ ba của anh. Bà con nội ngoại, chòm xóm tới nhà nhộn nhịp. Các bà mỗi người một việc cùng xắng tay nấu nướng ở sau nhà bếp. Cái không khí nồng ấm và hình bóng xưa cứ chạy suốt trong tâm tưởng. Anh hai ngồi nhớ một hồi rất lâu…Anh lấy tay quẹt nước mắt…

Ngày trở lại Mỹ. Chiếc máy bay đáp xuống phi trường. Anh ra khỏi khoang máy bay, bước vào nhà ga với không khí mát rượi. Anh Mỹ đen rà cái pass board xong, ngước lên mỉm cười và nói: Well come back USA…

Chiếc xe hơi thân quen của đứa con ra rước anh chạy trên xa lộ. Anh cảm thấy thoải mái và an toàn vô cùng. Anh Hai hơi đói bụng.Thằng con chở anh đến quán phở quen. Anh ăn ngon lành tô phở gần như cạn nước…

Đêm mới về lại căn nhà ở bên nầy, anh bị mất ngủ vì trái giờ, quen giấc gần hơn cả tháng ở Việt Nam. Anh nằm gát tay lên trán mơ màng…Anh chợt thấy một điều gì đó… hình như là …BÓNG NHỚ vừa hiện ra trong tâm hồn mình…!

H ÌNH NH Ư

Trong thời chiến tranh, anh luôn đối diện với biết bao hiễm nguy của chiến trường. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu đồng đội ngã xuống, biết bao nhiêu đối phương phơi xác trong các hố hầm, biết bao người dân chết oan uổn giữa hai lằn đạn. Anh đã mất đi cái thăng bằng trong cách sống. Anh thiếu vắng thời gian để có cái dịu dàng ấu yếm trong tình yêu, trừ một mối tình trong tuổi còn học trò. Bây giờ anh sống vội vả với những ngày nghĩ phép hoặc những buổi không đi hành quân. Tình yêu tinh khiết dường như không còn ở lại với anh. Anh đến với những cuộc gặp gở bất ngờ. Anh vồ dập với những cơn luyến ái trong hơi men. Lời nói yêu đương chỉ là cái lý giải để anh chiếm đoạt người tình hơn là là sự rung động thật sự của con tim. Từ đó anh vô tình đã để lại bao nhiêu hậu quả cho những người con gái đến với anh: “Nước mắt, sự đau khổ, có cả những hệ lụy trong tai nạn ái ân vội vã đó.” Chiến tranh đã đẩy cuộc đời trai trẻ của anh vào cơn lốc xoấy của cơn lửa táp, đạn vèo. Anh như bị đánh mất bản chất con người của anh trong cơn biến động đó.

Đến một lúc rồi anh cũng phải có vợ. Cưới vợ như là một định kiến của gia đình, thân tộc và định vị lứa đôi của cuộc sống đời thường.

Thời gian trôi nhanh…Anh nhìn về phía trước một đoạn đường lấp ló buổi chiều tàn. Đôi lúc anh quay đầu nhìn về quá khứ. Một thời gian dài hơn 40 làm vợ chồng đã trôi qua trong bao gian truân khốn khó...Bây giờ hai người đã già, không còn đi làm nữa. Con cái đã có gia đình và có cơ ngơi ổn định. Hai bóng già lặng lẻ sống bên nhau trong gia đình càng lúc càng tróng vắng…. Không biết có phải vì biến thái của tuổi già hay vì tính khí khác biệt của mỗi người mà sự va chạm thường xuyên có dịp khoấy lên..? Có một cái lực vô hình nào đó đẩy mỗi người mỗi ngày một xa. Cái xa không phải là khoảng cách mà xa trong tình cảm …? Suốt hơn 2 năm vợ chồng sống chung nhà, nhưng mỗi người mỗi phòng riêng.Sự gìao tiếp với nhau bề ngoài cũng rất bình thường vì bổn phận làm cha, làm mẹ với những đứa con, làm ông bà với những đứa cháu và vì sự giao tế bạn bè thân thích. Nói tóm lại, mỗi người ráng đóng vai trò cho thích hợp với mọi hoàn cảnh. Đến một ngày vợ anh bệnh nặng và tách hẳn về nhà đứa con gái để tiện viêc chăm sóc, thì sự xa cách bị đẩy xa thêm.Thỉnh thoảng anh về bên nhà con gái để giúp đưa vợ đi nhà thương hoặc làm một vài cử chỉ nặng về phần an ủi nghĩa tình, dù sao 2 người cũng có mấy chục năm chăn gối.

Mấy năm liền anh sống trong căn phòng đơn chiếc với những sinh hoạt tự túc châm lo cho mình và thằng con út còn đi học. Thời giờ còn lại, anh tìm quên trên bàn máy vi tính với những bạn ảo trên Net và trên Facebook. Những bài thơ, những bài văn lúc nầy được trải ra nhiều hơn. Khoảng lấp nầy cũng chỉ giới hạn chừng mực nào đó…còn lại nỗi cô đơn của tuổi xế chiều đang còn sức luyến ái, đôi lúc bậc dậy trong anh những cơn thèm khát xác thịt. Anh cũng chỉ dằn lòng lại thôi…

Nhiều lúc ngồi một mình, anh nhìn lên khoảng trời mịt mù sương khói, cánh chim nào đó bay trong trời giá lạnh, về một hướng rất xa xăm…. Quỷ thời gian của đời sống không còn bao nhiêu nữa là hết. Anh chợt thấy buồn buồn cho cuộc đời mình…Anh như cánh chim kia cứ bay đi thầm lặng đến cuối chân trời.Trong một khoảng riêng buồn…anh thấy có một nỗi hụt hẩn rất lớn trong tâm hồn… hình như tình yêu thực sự đã mất trong anh tự bao giờ…!?

CUỐI NĂM XỨ NGƯỜI

Do hiện tượng thời tiết, cả gần hơn tháng nay trời cứ mưa liên tục. Mưa không lớn. Mưa rỉ rả. Gió lạnh lùa ngang cây trơ cành bên ngoài. Bầu trời một màu xám mờ. Trời không băng giá, nhưng những cây loại nhiệt đới được đặt bên trong mái hiên nhà sau thì ủ rủ gần như trân mình, bầm lá, mặc dù được che bởi những mảnh nilong.

Buổi sáng ngồi uống cà phê, nhìn cây mai tứ quí nhú mầm nụ hoa. Tháng cuối năm âm lịch sắp hết. Ừ cuối năm rồi! Cuối năm của một khoảng đời gần hết. Cuối năm chập choạng với những ngày lặng lẻ. Cuối năm với cơn mưa lạnh nơi xứ người. Cuối năm tôi co ro như những cành cây nhiệt đới. Cuối năm chẵng có niềm vui nào trổi dậy trong hồn. Cuối năm lẩn thẩn với mớ nghĩ suy quanh quẩn rồi than thở một mình. Cuối năm xứ người sao buồn quá…!

LẨN THẨN 30

Vợ tôi nói: Năm nay tháng 12 thiếu, không có ngày 30 đâu nghe ông! Có đi đâu chơi nhớ về nhà để cúng cơm mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào buổi trưa … Em chuẩn bị mâm ngủ quả để cúng mừng vui năm mới. Anh nhớ mua phong pháo đốt lúc Giao Thừa để xóa đẩy hết những đều không tốt của năm cũ. Nhớ là ngày 29 đó nghe! Tôi ừ ừ ...đàn bà có khác…! Cái gì mà phải nhắc nhở ....năm nào cũng vậy mà….! Nhưng tôi chợt nhớ lời bà xã … năm nay không có ngày 30 đó nghe. Ừ…Ừ… không khéo lại quên mất…Tôi thẩn thờ nhớ: Đêm 30 xưa nơi quê nhà trong thời thơ ấu bên mái gia đình êm ấm. Đêm 30 lê bước trên phố khuya với lòng trỉu nặng tình buồn. Đêm 30 nơi trại lính trong thời chiến tranh với rượu nát tàn canh. Đêm 30 nơi “Trại Cải Tạo” sau ngày 30 tháng Tư với nỗi buồn cho một ngày mai vô định! Đêm 30 nơi đất khách với cảm giác buồn nhớ quê hương. Một nửa cuộc đời nơi quê nhà với bao thăng trằm cay đắng. Một nửa cuộc đời bình lặng nơi đất khách quê người với bao nỗi trằn trọc, thao thức về đất nước quê nhàThoáng chốc đã hơn 70 năm làm người!

Năm nay đón Giao Thừa nhầm ngày 29…Tôi chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó…vì không có ngày 30 “Em đến thăm anh đêm 30…còn đêm nào buồn hơn đêm 30…Anh nói với người phu quét đường…Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”.

SAU NGÀY 30 THÁNG TƯ

Tôi có người anh bà con, ba anh đi kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông hy sinh lúc Hiệp định Geneve vừa ký xong…1954 anh bị đưa ra Bắc lúc anh mới 12 tuổi. Anh thực sự nghĩ cái chết của ba anh bởi lòng yêu nước c ũng nh ư bao nhi êu ng ư ời tham gia kh áng chi ến th ời đ ó. Mấy chục năm ra Bắc, anh bị nhồi nhét lý tưởng Cộng Sản. Họ chèn ép nhân dân và thanh niên miền Bắc vào khung hận thù miền Nam và Đế Quốc Mỹ.Thật sự chủ nghĩa Tự Do của miền Nam và Đế Quốc Mỹ anh chưa bao giờ biết rỏ. Anh bị bưng bít sự thật và chỉ biết qua tuyên truyền là nhân dân miền Nam sống trong áp bức, đói rách, bần cùng…

Tôi được 11 tuổi, sống và lớn lên trong miền Nam. Tôi được đào tạo trong cái nôi Tự Do - Dân Chủ.Thực sự tôi không biết cái giá trị nầy ở mức độ cần thiết là bao nhiêu.Từ lúc nhỏ tôi nghe tuyên truyền chủ nghĩa Công sản là tam vô, là đôc ác, là bần cùng hóa nhân dân.Thực sự tôi không hiểu cái mức độ độc ác của Cộng sản là tới mức nào. Tôi rất mơ hồ khi ngồi trên băng ghế nhà trường, khi vào quân ngũ, cả khi buông súng đầu hàng khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, Tư lệnh tối cao của quân đội hạ lệnh đầu hàng. Tôi và bạn bè đồng ngũ chỉ tức tối vì nghĩ rằng mình đâu dể bị thua bộ đội miền Bắc! Và thêm nữa…Cả miền Nam chắc cũng ngớ như tôi (Chỉ những người Bắc di cư 1954 là hiểu về Cộng Sản qua các cuộc đấu tố và cải cách ruộng đất lúc đó…)

Sau 30 tháng Tư năm 1975 người anh từ miền Bắc về Nam.Việc đầu tiên là anh quá ngỡ ngàn trước một Sài Gòn diểm lệ. Việc thứ hai là căn nhà của má anh là một căn nhà gạch mà anh phải thốt lên: Căn nhà thế nầy phải là cấp bộ Trưởng mới có được…rồi ngày tháng năm kế tiếp…tất cả đã làm anh từ băn khoăn và rồi đến lúc nói với tôi: Bọn mầy để miền Nam bị mất thật uổn…Bây giờ làm sao lấy lại được…?!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Dương Thu Hương ngồi bên lề đường úp mặt khóc vì một Sài Gòn phồn thịnh mà bị mất vào tay ‘Ăn Cướp”…

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 hàng hóa,vật liệu, lúa gạo miền Nam chở ra tiếp tế cho miền Bắc. Thanh niên nam nữ miền Bắc mơ vào Sài Gòn như mơ đi nước ngoài …

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhóm chóp bu lảnh đạo chia nhau làm giàu. Một loại Tư Bản Đỏ mà trong nước gọi là Nhóm Quyền Lợi...sắp bán đứng quê hương cho Tàu….!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 người dân cả nước mất hết Tự Do-Dân Chủ-Nhân quyền…!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975…mới đây nhất một nhà sữ học nổi tiếng trong nước nói đại ý như vầy: “Chế độ Cộng Sản là không tưởng…có đâu mà tiến tới”

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975: AI THẮNG AI….?

Sau gần mấy mươi năm anh em có dịp gặp lại. Anh nói với tôi: “Tao đã bị lừa mấy chục năm khi còn ở ngoài Bắc. Tao bị phản bội sau ngày 30 tháng Tư chính những đồng chí của tao…!.Tôi nói với anh: “Trước đây tôi cầm súng chống Cộng Sản mà chưa biết Cộng Sản thế nào...! Sau ngày 30 tháng Tư, tôi còn mơ hồ về họ..! Lúc tôi biết họ là ai thì đã muộn…Tôi đã bị đánh mât quê hương và bị sống xa tổ quốc…!

Tôi và anh ai buồn hơn ai?


Hoa ơi! Đừng kết trái

Khi mới dọn nhà về, phía sau là một khoảng đất trống.Vợ chồng chúng tôi phát họa một sân sau với vườn rau, cây trái.Vài năm sau, phía sau nhà có vườn rau và cây ăn trái, căn bản là các loại rau ăn hằng ngày: Rau râm, rau húng cây, rau húng lủi, rau dấp cá….Cây ăn trái như chanh, quit, cam, hồng, táo…Thấy đất còn trống chổ nào là tôi tha cây về trồng thêm.Vợ tôi cằn nhằn: “Ông trồng nhiều cây ăn trái, ráng thu dọn lá và mấy trái cây rớt…em lo không kham đâu a..?”. Nói là nói vậy nhưng tới mùa , cây nở hoa, kết trái thì vợ chồng tôi ra vườn sau đi nhìn từng nhánh, từng đóa hoa, chờ cho tới ngày cây đơm trái…nhìn những đọt rau thơm. Chúng tôi hái từng loại trái cây cùng ăn, cùng khen ngon ngọt…Chúng tôi có những cọng rau thơm cho một buổi cả nhà ăn bánh xèo…

Cách đây mấy tuần vợ tôi trở bịnh, lúc tôi còn ở Việt Nam và sắp tới ngày trở về.Tôi biết căn bịnh của vợ tôi trở lại lần nầy khá nghiêm trọng. Tuy nhiên chỉ còn đôi ba ngày nữa, tôi e khó đổi vé bay, nên nán lại…Chỉ việc nầy thôi làm vợ tôi giận hờn và trách cứ…!

Bây giờ vợ tôi phải điều trị lại và phải có sự châm sóc đặc biệt. Con gái tôi nói: “Thôi! Để má về ở với con, con sẽ xin nghĩ vài tháng để lo săn sóc và nấu ăn cho má. Nhà con thích hợp hơn. Khi má khoẻ lại sẽ về nhà ba…”

Mấy mươi năm chung sống. Mấy mươi năm gầy dựng gia đình, nuôi dạy con cái thành người lớn khôn và thành đạt nơi xứ người. Cho dù đời sống chung đụng vợ chồng sao tránh khỏi va chạm, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua…Cái nghĩa tình mấy chục năm gắn bó, làm sao mà dể bức rời.! Đến tuổi hưu, đáng lẻ chúng tôi cùng sống khoẻ mạnh bên nhau để hưởng những ngày còn lại của cuộc đời, cùng chia sẻ vui buồn trong cái quỷ thời gian còn lại không bao nhiêu. Cơn bịnh lần nầy sẽ làm sự sống của vợ tôi đau đớn và bất ổn…Sự kiện nầy làm tôi tan nát cõi lòng và ân hận.

Hôm nay ra vườn sau. Trời vào Xuân đã lâu. Các loại rau nức đất, trổi mình sau mùa lạnh giá, các loại cây ăn trái với chồi non xanh, hoa kết nụ…. Cây cam, cây quít, cây táo… hoa rụng cánh sắp kết trái. …Tôi đi thơ thẩn trong nỗi buồn buồn ray rức. Nhìn lên các cành cây, tôi nói thầm: Hoa ơi! đừng kết trái, năm nầy vắng người vợ thương yêu…Mùa nầy đâu có ai cùng chia sớt niềm vui…!!!

Mùa nầy hoa nở…thôi thành trái

Lòng ta rụng nát những niềm đau

Em ơi! vườn vắng em rồi đó

Hoa trái mùa nầy…Thôi tàn mau!

Cảm giác bềnh bồng

Mùa Đông đến. Khi tôi ngồi uống tách cà phê sáng ngoài hiên sau nhà, nhìn bầu trời như thấp xuống với những đám mây phù thủy vạn hình không rỏ nét. Những cành cây khô trong mù sương đứng trơ trơ, trân mình trong cơn lạnh. Tôi mường tượng một điều gì đó rất xa xăm. Tôi hơi hụt hẩn trong mỗi lần mò về quá khứ.

Bên nhà hàng xóm có tiếng vọng âm thanh của bài hát “Bài Thánh Ca Vô Cùng”. Tôi chợt nghĩ “Mùa Noel” sắp về…Và nhớ về mùa Noel năm xưa…

Trước đây còn đi làm ở một cửa hàng bách hóa. Cứ gần đến Noel là họ mắc dây đèn, trưng bày cây Noel và hàng hóa cho mùa lể gần cả tháng trước. Các món hàng được hứa hẹn là on sale trong ngày 24 tháng 12 và sau ngày 25 tháng 12. Ngày Lể coi như hiện diện ở tôi với chiếc mũ đỏ của ông già Noel để làm dậy lên cái không khí mua bán nhộn nhịp của cái thương hiệu Super Walmart.Từ ngày nghĩ việc về hưu, tôi chỉ lặng lẻ nơi căn nhà, ít muốn giao lưu với ai. Mỗi sáng ngồi uống café một mình. Mỗi ngày lên máy computer để xem tin tức, lướt qua Facebook và viết một vài câu thơ hoặc viết tiếp cái truyện còn dang dở.

Mỗi ngày tôi bềnh bồng với những mớ hoài ức khi nhìn ra ngoài trời mây. Mây cũng bềnh bồng theo từng ý nghĩ chập chùn gợi nhớ...

Khi ngồi trước khung máy. Tôi bềnh bồng với hình ảnh, chữ nghĩa. Tôi bềnh bồng với những nghĩ suy. Tôi theo với những dòng chữ. Tôi theo với ngón tay đưa đẩy con mouse. Tôi theo với cái kéo mủi tên lấp thêm mớ chữ vào bài viết. Ở đó là quá khứ. Ở đó, là hình ảnh của một thời rất xa xưa. Ở đó, là từng chập mây khói bay qua trong cảm giác và hiện rỏ qua dòng chữ. Có khi tôi chợt khóc. Có khi tôi chợt vui. Có khi tôi xao xuyến. Có khi tôi rạo rực. Có khi tôi ngộp thở...Tôi miên mang với từng ngón tay trên phím chữ. Ký ức dội về trong “Dòng Trôi Cuộc Đời”…Bản thảo viết về cuộc đời của tôi.

Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ ngưng tay. Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ hết còn suy nghĩ.Tôi thả thân nằm xuống, xuôi bỏ cuộc đời..! Lúc nầy hồn tôi sẽ bềnh bồng vào cõi hư vô. Hiện tại và quá khứ sẽ chỉ còn ở lại với những dòng chữ bềnh bồng…Không biết có đáng giá gì không? Nhưng ít ra tôi biết, tôi đã làm một điều mà tôi rất thích.Chỉ có vậy thôi…!

LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH

Viết tặng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Tôi vốn người gốc miền Tây Nam Bộ,…Thuở nhỏ tôi mê văn Hồ Biểu Chánh, tôi khoái văn vẻ của ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, sau nầy là Hồ Trường An. Tôi thích cái mộc mạc của người miền Nam, đặc sệt những âm điệu dân dã qua các câu chuyện. Sau nầy khi lớn lên, tôi đọc nhiều tác phẫm của các nhà văn khắp xứ của miền Nam trước năm 1975. Nhưng cái cảm giác ăn sâu vào tâm não vẫn là những tác giã mà tôi thích như nói ở trên. Khi ra nước ngoài tôi mang theo một số tác phẫm còn ít oi sót lại trên kệ sách để ở nhà của ba má ở dưới quê, những trang sách với những chữ in bằng khung in chì trên những trang giấy in đã biến thành úa vàng…Tôi trân quí các quyển sách đó và lâu lâu đem ra đọc…Lúc đọc, tôi bắt nhớ nhiều thứ vụn vặt vào cái thời thanh niên mới lớn của mình, như khi ra nhà sách Khai Trí, đi chộn rộn vào những chiều thứ Bảy qua những kệ sách bên dưới cho tới tần lầu phía trên….Thời gian đó tôi tập sự viết văn, thay vì làm thơ như mọi khi…Tôi muốn viết theo phong cách của những nhà văn mà tôi thích. Tôi viết đâu đó vài cái truyện ngắn…Tôi đọc đi đọc lại thấy kỳ kỳ, rồi xé bỏ vì muốn bắt chước mà không được…văn nó phát ra từ nguồn cảm hứng và thể hiện bản chất tự nhiên của người đó, bắt chước làm gì, mà có được cái giãi gì đâu…?Nghĩ vậy tôi bỏ viết truyện luôn. Sau nầy tôi có viết lại nhưng là từ cách viết nhật ký, rồi quen dần viết truyện ngắn qua cách thể hiện như viết nhật ký…viết từ cuộc sống của tôi và tôi vui vẻ ở lại với dòng viết nầy…

Khi qua Mỹ, vì bận bịu với công ăn việc làm, tôi đã bỏ hết thú đọc sách và bỏ luôn chữ nghĩa. Tôi chỉ đọc thoáng qua mấy tờ báo biếu về tin tức và vài mẫu chuyện cũ in lại. Cho đến một hôm ra nhà sách, tôi cầm lên một quyển sách mỏng với tựa là “Cánh Đồng Bất Tận”. Anh chủ quán ngó về phía anh và nói:Anh mua quyển nầy về đọc đi, anh bạn của tôi mới về Việt Nam mang qua vài cuốn cho tôi bán thử.Vốn là người không ưa mấy quyển sách của các tác giả viết sau năm 1975 vì đa số viết theo chánh sách và chỉ đạo của nhà nước. Tôi tò mò lật đọc vài trang…Tôi lại đọc tiếp, một sự thu hút quá nhanh đến với tôi qua những dòng chữ đặc sệt miền Nam.Tôi ngưng đọc và thầm nghĩ phải mua quyển sách nầy về nhà đọc mới tận hưởng hết những cảm giác mà từ lâu rồi tôi mới bắt lại được…Từ đó tôi đâm mê giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư và viết thư về cho đứa cháu ở Sài Gòn tìm mua các quyển sách mà Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gời qua bên nầy để đọc. Thời gian sau nầy khi bắt trớn viết lại, tôi hay làm thơ, viết văn và giao lưu trên Net…Cách đây hơn 2 năm, tôi bắt gặp Nguyễn Ngọc Tư trên Face Book và mò tìm thấy Bloggs của cô. Tôi liên kết vào trang Bloggs của Tư và từ đó tôi đọc bài viết của Tư trên Net. Biết cô còn trẻ, sinh sau năm 1975, tôi càng ái mộ cô về cách thể hiện tâm trạng của cô qua các bài viết ngắn, rất đổi đời thường, nhưng phản ảnh được cái xã hội của miền Nam sau năm 1975, nhất là các đề tài quanh quẩn nơi cô sinh sống, đất Cà Mau…Nơi chốn, sau 1975 tôi là một người tù”Cải Tạo”. Đầm mình trong những tháng ngày nơi vùng đất U Minh “Muổi kêu như sáo thổi-Đỉa lềnh như bánh canh”.Thời gian nầy tôi tiếp xúc được với người dân U Minh.Ban đầu họ còn xa cách và hận thù với những người của chế độc cũ, dần dà họ thân thiết và thật sự có cái nhìn khác về những người lính VNCH.Có một dịp ghé nhà một người dân., tôi thấy một em bé cở hơn 10 tuổi, ngồi cậm cuôi viết chữ I,T, một em lớn hơn chắc là chị của bé đang ngồi trả lời vài câu hỏi trong bài văn.Tôi thấy thương cho các em, tới tuổi nầy mới được cấp sách đến trường. Thấy tôi nhìn vào trang sách, em nói:Chú ơi! dùm góp ý với cháu để trả lời câu hỏi nầy “ Trong thời chiến tranh, một anh du kích giết được 4 tên lính ngụy, một anh khác giết thêm 5 tên lính ngụy…câu hỏi:Vậy ta đã giết tổng cộng được là bao nhiêu tên lính ngụy”.Tôi đọc câu hởi với sự khó chịu trong lòng mà không nói gì cả.Tôi buồn buồn cho một thế hệ con trẻ với cái lối dạy dổ lòng câm thù và nuôi lòng câm thù của nhà cầm quyền mới cho các cháu mà thực sự các cháu không biết.Thấy tôi ngần ngừ, mẹ của cháu nói:Mầy ráng làm đi đừng hỏi chú ấy…!

Thời gian trôi qua, bây giờ tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư trên Net, tôi chợt nhớ về chuyện cũ, vào thời đó chắc cô cũng chỉ vài tuổi và cũng từng học như vậy khi đến tuổi đi học…Bây giờ cô lớn lên, cô thực sự thấy bao điều của vùng đất cô ở, những thay đổi quá ngao ngán của một xã hội “Ưu Việt”mà sản sinh ra những con người quá dã man, những con người cho là vĩ đại mà rất đốn hèn…Những bài viết của cô làm tôi say mê đọc. Với một gốc nhìn không quá bi quan về những mầm non trổi lên mạnh mẻ trong bùn đất, bật lớn tươi tắn dưới ánh mặt trời chân lý, làm một con người chân chính trong một xã hội đầy dẩy bất lương.


MÙI TẾT

Hồi còn nhỏ, ở quê nhà…Lúc đó tôi cỡ hơn 10 tuổi.Mỗi năm cứ vào gần hết tháng 12, gió từ cánh đồng phía tuốt ngoài ruộng, sau nhà thờ Tin Lành thổi về với mùi rơm rạ còn mới.Mùa lúa vừa gặt xong còn trơ những gốc rạ và những vũng nước bùn.Cái mùi nồng nồng, hăng hắt đưa vào hai cánh mũi của tôi.…Gió từ bờ sông phía bên kia nhà lồng chợ, cũng đưa thêm về cái man mát gay gây. Những cơn gió cuối năm đôi khi thốc mạnh làm cuộn lên những dề cát cuốn ụp vào người, tôi bụm hai tay che mắt. Lúc đó, tôi nôn nao trong lòng vì biết rằng Tết sắp về…Ba má sẽ sắm cho tôi bộ đồ mới.Tôi sẽ có một mớ tiền lì xì từ ba má và bà con thân thuộc…

Bọn trẻ con chúng tôi thì mừng rở, còn người lớn thì cứ than thở : “Mới đó mà Tết tới nữa rồi…!”. Người lớn thi tất bật gồng gánh, buôn bán quanh năm…công việc cứ bề bề ra, lo chưa xong thì Tết lại đến. Bọn con nít như chúng tôi thì lại mong Tết về…đâu biết gì mà lo…

Gần sát ngày Tết, mặc dù vẫn còn bận rộn với công việc buôn bán, má tôi cũng dành thời gian lo ngâm gạo, ngâm nếp, phơi lá chuối để gói bánh ích, bánh tét. Chưng xong bánh tét, bánh ít đem treo trên giàn, thì đến lo đánh bột làm bánh bông lan…

Lúc còn nhỏ, tôi thường quanh quẩn bên má để giúp má hoặc để má sai vặt. Là đứa con trai lớn trong nhà, tôi thấy má làm một mình cực quá nên không nở bỏ đi bắn cu li với bạn bè mà ở nhà phụ một tay với má. Nồi bánh Tét xôi ùn ục…má kêu tôi thêm củi, tôi đút từng thanh củi vào lò. Má mở nấp nồi thăm chừng. Khói bốc lên nhiều, má nghiêng đầu tránh hơi nước nóng, lấy cây đủa dài xốc trở. Mùi lá chuối xông lên nghe thơm phức. Gần ngày Tết hơn nữa, má cân bột, đếm trứng để làm bánh bông lan, thì tôi phụ đánh trứng, đánh bột. Công việc phụ trợ của tôi được má thưởng cho ăn mấy cái bánh thử nóng hổi hoặc mấy cái bánh bông lan quá lửa, hơi đen đen nhưng thơm phức mùi vanila.

Ba bớt đi giao hàng vì cận Tết, ngồi tính sổ sách cuối năm. Hai bên trước cửa nhà, ba đặt hai chậu bông cúc nở vàng.Trên bàn thờ thì ba chưng bông vạn thọ. Cả nhà tôi thơm mùi bánh, mùi hoa, mùi nhang.

Người lớn ai ai cũng xem ra bề bộn lo lắng, còn bọn trẻ chúng tôi thì thấp thõm đợi ngày 30 Tết được tắm rửa sớm hơn mọi ngày và được ba má để sẳn bộ đồ mới cho ngày mai mặc đi chơi.

Đêm 30 má lo sẳn một dĩa trái cây “Cầu, Dừa, Đủ, xoài(Xài)”và một bình cấm bông vạn thọ. Đúng 12 giờ khuya, phía bên nhà thờ Tin Lành giựt chuông tinh toong. Ngôi chùa Phật phía bên sông đánh trống, bổ chuông in ỏi. Má lâm râm khấn vái trước bàn thờ đặt trước sân. Ba đốt dây pháo đỏ treo trên nhánh cây trước nhà, châm ngòi nổ đì đùng…Cả xóm chợ đâu đâu cũng đì đùn tiếng pháo.Tụi con nít chạy hết nhà nầy qua nhà khác lượm pháo lép hoặc chưa nổ kip bỏ vào túi áo…Có đứa vô ý bỏ vô cái pháo còn đang cháy ngòi, pháo nổ làm cháy áo, phỏng bụng.

Mùi Tết, mùi nhớ quê hương. Mấy chục năm rồi xa xứ. Khi hết tháng 1 mùa Đông còn đang lạnh, máy sưởi trong nhà chạy suốt đêm ngày. Căn nhà trống hoe.Vợ chồng còn tất bậc với công việc ở hảng xưởng. Con cái thì đi học….Đến cận ngày Tết Ta thì mới chạy ra chợ mua bánh chưng bánh tét và vài chậu bông đem về chưng bàn thờ. Chuẩn bị nấu vài món ăn truyền thống như thịt kho, dưa giá…Mùi vị ngày Tết không còn …chỉ còn là nỗi hoài nhớ…Khi qua đêm trừ tịch, hai vợ chồng ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Đêm 30 đi qua…Ngày mai lại tiếp tục đi làm, con cái đi học. Bàn thờ cúng cơm ông bà chỉ là cái bằng chứng để lại với khói nhang thơm nhẹ…Mấy đứa nhỏ còn cằn nhằn “Ba má đốt nhang nên mở cửa… Tụi nhỏ sợ khói nhang làm ngộp thở và hôi nhà…Kêu tụi nó khấn vái trước bà thờ ông bà thì tụi nó chỉ đốt một cây nhang, chấp tay xá xá cho qua việc. Có khi chúng đi làm, đi học thì chỉ hai vợ chồng dọn bàn cúng lạy…mà cũng chỉ nán lại trước bàn thờ vài phút rồi đi lo công việc khác.

Người lớn thì cố giữ lại truyền thống Tết được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu.Còn tụi nhỏ thì…khó quá! Tôi đâm nghĩ “Khi đám già cuốn gói về đất hết thì chắc tụi nó cũng quên cái vụ Tết nhứt nầy “Thật ra thì tụi nhỏ đâu có cái mùi Tết như mình có hồi từ thuở nhỏ đế mà nhớ…!

HỐI HẢ CUỐI ĐỜI

Trong đời người có biết bao nhiêu lần hối hả. Có những hối hả lo toan, nếu mình chưa hoàn tất với cái mức quy định của công việc hoặc thời gian thì mình có thể làm tiếp sau đó.Tuy nhiên có một sự hối hả mà mình phải hoàn tất, nếu không thì mình sẽ không có cơ hội để hoàn tất. Đó là sự hối hả của những ngày gần cuối cuộc đời. Quỹ thời gian của cuộc sống không còn bao nhiêu.Sự bất chợt rủi ro của tuổi già có khi vô chừng, khó đoán, cho nên sự hối hả như một điều thúc đẩy người tôi cố nghĩ, cố lọc lựa những gì mình cần phải hoàn tất trong khi có thể làm được, còn chừa một khoảng rủi ro nào đó mà thần chết giáng xuống mình bất thình lình.Cái quan trọng mà tôi phải làm trước đó là món nợ văn chương vướng lụy mấy chục năm qua, từ lúc biết làm thơ, viết nhật ký của tuổi 15, cho đến nay tóc đã nghiêng màu trắng. Cuộc bể dâu đã làm cuộc đời tôi nổi trôi thăng trầm. Cùng với thăng trầm đó là những dòng văn, những dòng thơ được trải ra trên giấy năm xưa và trên dòng Net ngày nay.

Tôi muốn nó ở lại đời khi tôi ra đi.Tôi muốn nó ở lại với thân quyến, bạn bè và theo linh hồn tôi về tận miền miên viển nào đó.

Tôi viết vì tôi, vì người thân và bạn bè.Tôi không ham muốn làm nhà văn, nhà thơ.

Tôi là một người muốn trải lòng ra để giải tỏa nỗi lòng cho chính tôi và chia sẻ với những người thương mến tôi bằng chữ nghĩa.Còn lại những thứ khác, nếu tôi chưa làm hết thì có người khác làm thế cho tôi.

Tôi muốn chính tôi phải hoàn tất những dòng chữ mà tôi đã viết, thành từng tập.

Tôi muốn được nhìn thấy nó đã thành hình.

Chỉ duy nhất có điều nầy làm tôi hối hả để hoàn tất trước lúc chia tay với đời sống nầy.

TÌNH NET

Ngày xửa ngày xưa, lúc còn mài đủn quần trong lớp học. Lúc đó khi yêu nhau người ta thường viết thư trao đổi tình yêu qua trang giấy học trò, kha khá hơn nữa là những mảnh giấy màu mõng. Thông thường rất kín đáo trao cho nhau bằng tay chứ ít khi gởi bằng thư từ, vì sợ bị lộ Khi ba má bắt được thư thì có mà bị tẩm quất hay la rầy một trận: “Còn nhỏ mà không lo học hành…ở đó mà yêu…Từ nay phải chấm dứt nghe con….phải lo học hành trước đã…” nghĩa là cha mẹ có quyền cấm con cái đi vào đường yêu đương và dỉ nhiên mấy tờ giấy viết sẽ bị xé nát và cho vào sọt rác. Tình yêu trai gái thuở đó cũng thường chỉ quanh quẩn trong xóm làng, quẩn quanh nơi phố chợ, ít khi xa ngàn dậm…? Với đà phát triển nhanh của khoa học qua các bàn máy vi tính và qua hệ thống Net, sư liên kết của con người vượt xa khoảng cách, vượt biển trời bao la để tìm đến nhau qua E-mail, tin nhắn. Các bậc cha mẹ ngày nay không còn kiểm soát con cái theo cái kiểu ngày xưa nữa, mà có kiểm soát cũng không được, đành phải chấp nhận một cách miển cưởng, bó tay, đành chịu…!

Các trang nối kết như hệ thống của các nhóm trên yahoo.com các trang mạng liên kết như facebook…đã làm mọi người trên khắp thế giới gần nhau hơn, thư từ, tin nhắn, hình ảnh chỉ chuyển trong tích tắt….Từ đó hình thành những mối tình ảo, vượt không gian mà yêu nhau. Sự trao đổi đôi lúc màu mè công chúng (public) sau đó chuyển qua nơi kín đáo hơn bằng Chát (Messenger). Có nhiều mối tình Net đến với nhau dịu dàng trên Net và rồi sau đó hẹn hò gặp mặt nhau, đôi khi hợp ý thì tiến tới hôn nhân thật sự, cũng có những quái quâm vở khóc vở cười khi đối diện với sự thật phủ phàng, hình em, anh trên Net thì quá đẹp…hoặc trí tưởng tượng về người yêu quá toàn vẹn, khi gặp nhau bị vở mộng…Chẳng hạng nàng hoặc chàng đi đứng cà thọt, ăn nói thì ấp a ấp úng ngọng nghệu…Có những mối tình chỉ cốt bẹo kéo nhau để cho qua buổi trng vắng của những ông bà ở tuổi về hưu, có nhiều thời giờ ngồi trước máy vi tính chát để đốt thời gian. Cũng có những cảnh ông bà đang sống ung dung với nhau mà lại ngoại tình trên Net. Ông một cái máy, bà một cái máy mặc tình mà chát yêu, chát quái. Mỗi người tìm thời gian thích hợp mà chát để khỏi bị lụy phiền, để khỏi bị khám phá…!Tân tiến hơn, mỗi người có một cái máy điện thoại thông minh…lúc nầy mặc tình mà liên kết, ở mọi nơi, ở mọi lúc, tha hồ ông chát, bà chát, con chát, rể chát, dâu chát…mọi người đều có cơ hôi ẩn náo riêng tư mà liên kết với nhau.

Tình yêu trên Net lại hình thành nhiều tình huống khác nhau và từ đó nở rộ ra các nhà thơ, nhà văn bất đắc dỉ với những bài thơ, bài văn gạ trao tình yêu vô cùng lãng mạng, đôi khi vô cùng Sến hằng ngày dán lên các trang mạng. Xin mở ngoặt phân ra các bậc đàn anh, các bạn văn, thi sĩ thực thụ dán lên nhiều bài viết rất giá trị để trao đổi với nhau. Nhờ đó tôi hân hạnh gặp được nhiềc bậc đàn anh, đàn chị v à bạn bè mà tôi rất quý mến. Cũng từ trên Net, có nhiền vụ lừa đão tình yêu….phờ phỉnh tình yêu xảy ra…tình ảo mà….có ai kiểm tra được đâu?! Mà thực ra có chết thằng Tây nào đâu với mấy dấu hiệu trái tim gởi cho nhau kèm qua các lời nói âu yếm…sống động hơn là những con vật nhả ra hằng hà sa số trái tim yêu qua ảnh gif. Có mất đồng nào khi gởi những bó hoa hoặc quà cáp trên Net. Ôi thời đại tân tiến! Ôi thời đại tình Net, tình Ảo… Thôi thì cứ phất phơ vào Net để đốt thời gian nhàn hạ. Mua vui cũng được một vài trống canh!Phải không các bạn?


MỘT MÌNH

Từ ngày bà xã tui xách gói đi ngủ riêng tới giờ …tôi cảm thấy mình thoải mái hơn. Chẵng là vì, khi lớn tuổi lúc trở trời trở gió mình mẩy ê ẫm, xương cốt hết đau khớp nầy, chạy qua khớp khác. Đêm ngủ chung giường với bà xã nhiều khi lấy tay đấm chồ nầy, bóp chổ khác trên cơ thể mình, hoặc xoay trở lặn lộn cho đở mõi…Bà xã tức mình càu nhàu “Cái ông nầy làm gì mà rục rịch sáng đêm làm sao người ta ngủ được!”.Tránh lời rên rỉ của bà xã…tôi cố gắng trân mình chịu đau hoặc trở mình nhè nhẹ. Nhưng làm sao khỏi nhúc nhích đôi chút được…!Mặc dù tôi đã mua chiếc nệm theo quảng cáo: Ông nhúc nhich–bà không bị nhúc nhích. Bà xã của tôi vẫn phàn nàn vì sự lăn trở của tôi.Tôi hơi quạu bởi vì mình cố gắng chịu đựng cái thân thể bất tuân như ý rồi mà còn bị cằn nhằn hoài. Tôi nói: “Tại bà khó ngủ chứ đâu phải tại tôi…hồi nẫm đôi khi ngủ say sưa bà còn ngáy khò kho.Tui có nói gì bà đâu? Vợ tôi nói: Hồi đó khác, bi giờ nầy khác…!Tôi chịu lép vế nằm làm thinh.

Ban đêm vì không ngủ được tôi cứ ngồi bật dậy đi tiểu…cái gì quá kỳ cục, cứ đi tiểu vừa xong vào giường nằm một chút lại muốn mắc tiểu nữa….Bà xã cầu nhàu “Cứ leo lên, bước xuống giường và dội cầu hoài làm sao ai mà ngủ cho được…!Đi khám bác sĩ đi.Coi chừng bị ung thư tuyến tiền liệt đó.(Chuyện nầy khỏi lo vì tôi đi khám rồi…tại uống nước nhiều-khi ngủ hỏng được thường là như vậy…).

Chưa kể nhiều khi xem một cái phim hay, mình muốn coi cho hết, bã rên rỉ: Làm ơn tắt cái TV cho người ta ngủ...ngày mai còn phải đi làm.Tôi cụt hứng tắt cái TV.

Còn nữa, tôi hay hứng tình với nàng thơ. Khi một ý thơ nào đó hay hay hiện ra trong đầu, tôi bậc cái máy vi tính lên và ngồi hằng giờ để làm thơ hoặc viết truyện… luôn thể đọc mail của bạn bè gởi cho mình và trả lời, đôi lúc đọc nhiều bài thơ hoặc bài viết hay mình góp ý. Vợ tôi lại than thở tiếp vì mấy tiếng cộc cạch của bàn phím khi tôi gỏ chữ.

Nhiều lúc bà xã tôi lại tò mò xem tôi làm cái gì trên máy vi tính mà ngày nào cũng mở máy và ngồi ngâm rất lâu. Vợ tôi nghe câu chuyện mấy lão niên cứ lên mạng chát chiếc với mấy em “Cỏ Non” ở Việt Nam…lâu ngày đâm mê mệt và hẹn hò kiếm chuyện về bên đó mà du dương.

Có một ông sau khi đi về Việt Nam nhiều chuyến, khi trở lại Mỹ tuyên bố ly dị bà vợ tắm mẵm ở bên nầy. Dĩ nhiên của cải do vợ chồng gầy dựng bấy lâu bị chia tứ tán. Con cái lớn khuyên cha, nhưng vì quá mê “Cỏ Non” ở Việt Nam rồi nên nhất quyết không nghe ai hết. Chàng già về xứ Việt làm đám cưới linh đình và bảo lảnh em sang Mỹ. Bà vợ mất một căn chung cư… để ông chồng đem con vợ nhí sang hú hí. Buồn quá bà đâm ra điên điên bởi lẻ ông chồng của bà rất hiền lành, sống mấy chục năm ông luôn là người chồng gương mẫu.Hai vợ chồng mở tiệm Nail &Tóc, bà bận rộn với việc làm, ông tận tụy giúp bà từ việc lớn đến việc nhỏ.Hai người chí thú lo làm ăn nên mua được một căn nhà và sau đó là một dãy chung cư gồm 10 căn hộ.Suốt ngày ông cứ quanh quẩn ở tiệm giúp bà điều hành công việc.Tối đến ông làm sổ sách. Bà rất thương yêu chồng và tin chồng hết mực…nhưng ở đời ai đâu có ngờ! Người lù đù “Vát lu mà chạy” ít nói như ông chồng bà lại giở chứng hồi nào mà bà không biết được.Chừng đổ bể ra sau mấy chuyến về thăm bà mẹ già của ỗng còn ở Việt Nam…Ông đòi ly dị và chia của.Bà giử căn nhà và cái tiệm, còn ông thì giử cái chung cư.Bà vô cùng đau khổ vì sự bất ngờ nầy nên đâm ra như người mất trí. Bà tức khí vì mất ông chồng thương yêu rất mực của bà“ Đồ con “quỉ cái cướp chồng bà còn nhởn nhơ hưởng phần mồ hôi nước mắt của bà…trước mắt bà!”.

Tôi không đồng tình với mấy việc như vây.Vợ chồng tay dắt, tay níu con thơ với hai bàn tay trắng sang đây.Vợ chồng xây dựng gia đình từ con số không.Tính từ thời gian bước đầu đến khi cơ ngơi khá ổn định, con cái học hành đỗ đạt và có việc làm, đó là công lao lặng lôi thân cò của vợ chồng tôi trên đất mới nầy.Với tôi…tôi rất trân quý những ân tình của vợ tôi đã khổ cực từ lúc đời tôi đầy gian nan khi còn trong nước và đã góp tay khó nhọc cùng tôi từng năm tháng xây dựng tổ ấm nơi xứ người nầy. Ai mà lại vô cảm-vô tâm phụ rảy ân tình nầy.Tuy nhiên “Ớt nào là ớt không cay- vợ nào là vợ chẳng hay ghen chồng” Với sự nghi ngờ và có thể cũng để đề phòng trước vì thấy tôi sao cứ tối ngày lên mạng hoài nhiều lần vợ tôi nhìn vào khung màn ảnh máy vi tính phía sau lưng tôi để dò xét.Tôi nghĩ chắc mẫm là bà xã tôi nghi ngờ tôi chát chiếc với ai đó, có bao giờ bà xã tôi tò mò để xem văn vẽ của tôi đâu!.Chưa bao giờ thơ văn của tôi lọt vào đôi mắt của nàng…! Mặc tôi mơ mơ, màng màng những chuyện năm xửa năm xưa với nhiều hồi tưởng qua những dòng thơ tình sướt mướt hay tưởng tượng một câu chuyện tình lâm ly nào đó để kết thành văn vẻ đậm tình éo le–lâm ly hoặc đổ vỡ.Tôi đoan chắc vợ tôi chẳng thèm ngó ngàng đến thơ văn của tôi cho dù có đem quyển thơ hay quyển văn của tôi đặt trước mặt.Nhưng từ ngày bà xã tôi giao lưu với bạn bè trong trang Web Trung Học Chợ Lách…tôi có bài vỡ tham gia.Bạn bè của vợ tôi đọc bài của tôi không biết khen thiệt hay chỉ động viên…bà xã cũng dừng mắt đọc thơ văn của tôi cho biết sự tình….Cám ơn trang Web vì tôi có một đọc giã bất đắc dĩ:VỢ TÔI!…!

Người ta thường nói: Sự thành công của người chồng luôn luôn có bóng dáng của người vợ hổ trợ. Tôi nói trại ra: “Sự thành công của các người cầm viết (Văn-Thơ-nhạc-kịch ) phía sau luôn luôn có bóng dáng của các người vợ thông cảm và chịu đựng”. Trong một cuộc phỏng vấn, vợ của nhạc sĩ Anh Bằng có nói: Ổng đi đâu thì đi và làm cái gì thì làm…khi về nhà ổng là của tôi là được rồi…”.Riêng bà xã tôi thì nói: Ông làm cái gì thì làm…nếu lựng bựng gì đó với ai… hể tôi biết được là tôi cho ông đi tàu suốt.Hồi trẻ mình rơi có người hứng lấy còn bây giờ già khú đế rồi ai mà lượm…!Lời phán hơi nặng ký như vậy…có ngán không quý bạn…? Tôi ngán lắm đó…cho nên néu lỡ ăn vụn thì chùi miệng liền hà!

Từ lâu tôi có thói quen …khi đang say sưa với những dòng thơ hoặc lời văn đang hiện ra trong đầu rồi gỏ những dòng chữ hiện ra trên màn ảnh mà bị ai đó dòm ngó là tôi mất hứng và bị khựng lại…Một hôm không dằn được cơn bực bội .Tôi nói với vợ tôi: “Từ nay tôi muốn bà để tôi yên khi ngồi vào bàn máy vi tính làm việc nghe...! Bà xã giận bỏ đi một nước và nói: Ừ tôi đi ngủ riêng…để ông thanh thơi muốn làm gì thì làm…! Và vợ tôi thu dọn ra phòng riêng từ hôm đó.

Chúng tôi ngủ cách ly nhưng sinh hoạt gia đình cũng đều hòa. Mấy đứa con biết lý do má tụi nó ra riêng không phải vì chúng tôi giận hờn nhau mà vì lý do tôi lớn tuổi khó ngủ cứ cựa quậy lung tung làm má tụi nó ngủ hỏng được…!

Mấy ngày đầu ngủ một mình, tôi thấy thiếu thiếu hơi hướm ba xã…vì mấy chục năm ngủ chung giường với nhau rồi chớ bộ …!“Thia thia quen chậu-Vợ chồng quen hơi” mà. Nhiều đêm giật mình mở mắt nhìn bên cạnh, thiếu bà xã cũng thấy lạnh lẻo cõi lòng “Ghe lui còn để dấu dằm-Người thương đi vắng dấu nằm còn đây”.

Mấy lúc sau nầy bà xã tôi hay đi chùa nghe các thầy thuyết pháp. Hồi trước ăn chay một tháng 4 ngày…dần dà ăn gần suốt tháng. Bà xã tôi khoe:Từ ngày ăn chay đến giờ thấy trong người được khoẻ hơn: đường, mỡ, trong máu giãm, ấp xuất huyết giãm.Thế là vợ tôi gần như trường chay. Phòng của vợ tôi gần như là tịnh thất…

Vợ tôi ăn chay, đọc kinh, đi chùa và ngủ chay. Dỉ nhiên tôi cũng đành ngủ chay dài dài…!Tôi tập ăn chay để giãm nhiệt cơ thể cũng chưa đến nỗi của tôi…hơi ngặt chứ bộ…!Nhưng lâu dần cũng quen!

Một mình trong căn phòng rộng, trên chiếc giường King-size(Giường lớn dành cho vợ chồng ngủ chung) tôi thoải mái tự tung tự tác: Đấm lưng, đấm bóp chân tay thả ga, đôi lúc ngồi lên nhấm mắt tọa thiền hoặc uốn éo cho phẻ gân cốt ...không sợ ai rầy rà. Nhiều phim hay cứ thoải mái xem cho tới hết…Bật máy vi tính cộc cạch thỏa thích để làm thơ tình, viết truyện yêu đương… Khi ngồi vào bàn cầu ...đọc báo, đọc thơ cũng không ai hối thúc.(Cái thú đọc mọi văn tự mà tôi vớ được khi vào nhà vệ sinh là một thói quen của tôi khó mà bỏ được). Kể ra Một Mình đâu phải cô đơn...!

Huỳnh Tâm Hoài

Cali đầu năm dương lịch 2014