Thursday, January 30, 2014

Ở Cơi Năm

Ở CƠI NĂM
Tặng N/S Hồ văn L, D/S Khưu Hoàng H và D/S Lâm Khả Đ
Ba chiếc tàu đóng theo kiểu Thái Lan chạy suốt mấy ngày mới tới chổ “Đổ quân”. Chặng đường 2 ngày ba đêm, người tù cải tạo nằm chật nức trên sạp tàu, lù mù trong bóng tối dưới khoang hầm. Mọi người tự hỏi: Đi đâu? Họ đem mình đi đâu? Có vài anh bạn phục vụ cho các cán bộ được lên xuống rỉ tai: Tàu đi về hướng Rạch Giá …tàu ra đến sông Ông Đốc….Tàu chạy chậm lại và cặp đất. Khoang hầm được mở ra. Ánh sáng tràn xuống làm hoa mắt. Một “Anh đội” non chẹt quát xuống: Các anh chuẩn bị đổ quân…Mọi người buồn bã thu xếp gói quần áo và vật dụng cá nhân ngồi lên chờ đợi. Mấy ngày nằm vã với mùi hôi hăng hắc của nước lẩn dầu phía dưới sạp của khoang tàu, gió và ánh sáng lùa vào làm mọi người dể chịu đôi chút…Một cái thang cây được bỏ xuống. Đoàn tù lần lượt leo lên. Ngoài xa xa là một vùng nước mây mù mù. Một anh bạn nói: Ngoài kia là cửa sông Ông Đốc chạy ra biển Đông.

Tất cả đoàn quân của ba chiếc tàu được xếp hàng trên vùng đất khô, có vài chổ deo dẽo, nhưng đứng trên được. Sau khi kiểm quân xong mọi người ngồi ngay hàng tại chổ cho đến lúc ban nhà bếp mang cơm gánh trong các bị cần xé phân phát cho buổi ăn chiều. Nắng rát mặt phả lên đầu lẩn mùi hăng hăng của vùng đất ẫm nước biển, của các động vật dã hoang chết đâu đó làm bửa ăn vội vã đi qua. Tất cả được lệnh di quân đi hàng một vào sâu phía trong và dừng lại một khoảng đất trước vài cái chòi lá để đợi lệnh. Trời xế bóng, nắng dịu hơn. Cái không khí nơi đây thấy dể thở. Trời mây trong vắt, từng đoàn chim bay từng bầy rợp trên bầu trời.Tuấn tự hỏi: Mình đi về đâu vào khoảng rừng trước mặt… ? Một anh bạn kề tai nói nhỏ: Hồi đó tao có đổ quân đánh một trận vào U Minh. Anh chỉ tay tôi về phía xa xa, nhưng vì rừng tràm, sậy chắn ngang mặt nên tôi cũng chẵng thấy gì chỉ ừ hử. Anh nói chắc tụi nó đem mình vô đó: Rừng U Minh, tôi nghe loáng thoáng như thế.
Trời tối dần, một toán du kích tới bao quanh với họng súng chỉa vào đoàn. Một tên trưởng đội nói lớn: Một chút nửa hành quân, các anh đi hàng một không được để đứt hàng, người sau nhìn người trước. Ai bỏ hàng coi như muốn chạy trốn sẽ bị bắn bỏ. Các anh nhứt trí chưa? Mọi người la nhứt trí nhưng rời rạc. Hắn la lớn: Các anh nói lại. Nhất trí! nhất trí, nhất trí…. Hơn một ngàn người bại binh đi trong bóng đêm với vài ánh đèn pin chớp loé, có lúc phải lội qua các mương rảnh, quần áo ướt sũng nước pha lẩn mồ hôi vã mặt mày. Anh bạn đồng hành là một nha sĩ làm việc ở bệnh viện chung với Tuấn. Anh không quen vất vả nên cứ bị thục lùi ở phía sau vì mệt. Tuấn phải gánh dùm anh một gói đồ cá nhân và hối anh đi theo.Trong đêm tối Tuấn nhìn anh phờ mệt với cập kính cận dầy trể tuột xuống hai cánh mũi. Trông anh thãm hại vô cùng. Tuấn là con nhà nghèo từ thuở nhỏ, lại có thời gian là lính trận cho nên quen nhọc nhằn, còn anh thì không quen. Khoảng hơn hai giờ băng rừng băng bụi. Lúc đó hơn 10giờ đêm, đoàn quân dừng lại và ngủ dọc trên bờ đường đất. Tuấn cùng anh bạn nha sĩ trãi miếng vãi nhựa, giăng chiếc mùng nhà binh nằm quay đầu nhau ngủ.Vì quá mệt mõi nên hai người vùi vào giấc ngủ say. Sáng ra, mặt trời hồng một phía rừng tràm, sậy. Tuấn và anh bạn nhìn một đàn muỗi bụng căng đầy máu của một đêm ăn hút no say bay là đà với cái bụng căng tròn đỏ. Anh bạn vổ đập một lúc hai bàn tay đầy máu. Tuấn nhìn hai khúc tay hở của mình cũng đầy những đốt muỗi. Muỗi rừng đói khát…!
Tuấn tưởng đây là điễm dừng tạm, nhưng không phải ! Nắng sáng rưc rở hơn phía khoảng rừng trước mặt, lệnh truyền các toán trưởng đi họp. Cả đoàn quân được chia ra từng nhóm 10 người với 20 thước vải nhựa dùng làm trại đóng quân tại bờ mương nầy. Mỗi toán cử một người ở nhà giử đồ và lo nấu cơm cho toàn toán, một anh lo đi cải hoạt, tìm rau cỏ, câu cá hoặc bất cứ việc gì để có đồ ăn cho bửa ăn 10 người.Tất cả tám người còn lại đi chặt cây tràm nhỏ và cây sậy về che lều. Buổi chiều lều đã được căng xong. Các thanh sậy được lót xen kẻ với cây tràm làm hai mái lều. Căn lều được dựng lên tương đối che được nơi ăn ngủ cho tù nhân. Có đều cực cho mấy anh chàng lớn con như anh H, anh Đ, muốn vào lều phải mọp lưng bò vào. Lúc rời trại ở Cần Thơ mỗi người được cho một miếng tôn, dùng cây vụn để đóng thành khung, được chở bằng xuồng máy từ tàu lớn đem phát cho mỗi người nên chổ nằm tương đối ấm lưng. Chiều xuống rừng buồn hiu hắt, mỗi vo ve bay như bụi mõng, quơ tay có thể nắm trọn vài mươi con. Mới 5 giờ chiều mọi người đã giăng mùng ngồi vào trong để chuyện trò với nhau. Có anh kéo thuốc lào nhả khói mù thơm phúc. Tuấn bò ra, đi nhanh về phía anh bạn thử một hơi thuốc say nhừ. Mấy anh bạn cười sằng sặc vì cơn ho giật vã của Tuấn. Cả hơn tiếng đồng hồ Tuấn mới đi về được chổ mình ngủ. Anh bạn nha sĩ nằm kế bên đã ngủ từ lâu. Có vài tiếng ho húng hắng của anh nào đó ở căn lều kế bên. Gió từ cánh rừng thổi lùa làm miếng vãi nhựa hở kêu phành phạch. Có vài tiếng cú kêu cú cú ở một nơi nào không định hướng được. Buổi tối nằm trên bờ mương giữa rừng U Minh. Tuấn moi tấm hình trắng đen của vợ con ra từ gói đồ, nhìn mờ mờ trong ánh đèn dầu nhỏ làm bằng hủ chao. Nước mắt chàng trào ra mặn môi vì nổi nhớ con…! Tuấn tắt đèn và nằm trằn trọc mãi đến một lúc nào đó rồi ngủ thiếp đi.
Gió lùa xa tận rừng thâm
Gió đưa giấc ngủ căn phần xót xa
Có như vừa mới hôm qua
Đời trăm giấc mộng bổng sa dốc ngàn
Đêm U Minh đêm mộng tàn
Đón đời mưa gió vùi thân đau hờn
Trời hừng sáng.Tuấn thức giấc vì cái lay mình đánh thức của anh bạn nha sĩ: Dậy đi ông–Sáng rồi! Tuấn chần chừ mở mắt vì chàng biết hôm nay chưa có chương trình đi lao động, có lẻ trại cho xã hơi một ngày. Anh bạn nha sĩ kéo thuốc làm bằng hủ chao kêu ro ro và ngửa mặt thở khói.Thật ra anh chỉ lấy thuốc điếu ngắt ra và dùng cái hủ chao làm bình hút như điếu cầy hút thuốc lào. Anh nói hút như vầy đở hao. Anh giục: Dậy đi, tôi pha cà phê xong, làm vài hớp cho tỉnh. Hồi hôm ông thức khuya, bộ nhớ vợ hả? Tôi ngồi dậy chống chế: Nhớ thằng con quá anh ơi! Anh cười hề hề lộ hàm răng trắng đều: Thằng con anh lớn hơn con gái tôi một tuổi.. Ờ.. bằng tuổi đứa thứ hai của anh. Tuấn ngồi hẳn dậy, thu xếp mùng mền và ngồi bên anh hớp một ngụm cà phê đựng trong lon Guizgo. Anh nhóm cho tôi một nhúm thuốc.Tôi rít nhè nhẹ vì sợ say như hồi tối. Anh cười nói: Không phải thuốc lào đâu mà sợ! Tuấn và anh nha sĩ hồi đó làm chung bệnh viện tiểu khu. Anh làm việc chuyên môn còn Tuấn là sĩ quan quản lý lo phần hành chánh cho nên cũng ít khi gặp nhau, nếu có chăng cũng chỉ có cái chào tay và nụ cuời. Ngoài giờ Tuấn đi nhậu với bạn bè, còn anh thì bận với phòng khám nha khoa tư. Đôi khi cũng có lần ngồi với nhau uống rượu, đánh bài chơi giải trí cuối tuần. Anh vui vẻ, cởi mở và luôn có nụ cười hề hà sảng khoái. Với anh có lẻ cuộc đời được đầy ưu đãi. Hồi nhỏ đi học, tốt nghiệp đại học, nhập ngủ với chuyên nghiệp, ra trường được đưa về làm tại bệnh viện. Cho nên sự gian khổ đối với anh không có. Trong những ngày tháng bị nhốt tù, tôi với anh như có một duyên ngộ luôn có dịp đi chung với nhau cho dù bao lần chuyển trại. Cũng từ nhiều ngày tháng chung đụng, thâm tình giửa tôi và anh gắn bó hơn. Tôi chỉ cho anh cách nấu cơm khi anh được phân công làm anh nuôi hoặc vã nếu ở nhà với anh thì tôi có nhiều dịp giúp anh hơn. Anh chưa quen vất vả với những công việc tay chân nhưng anh vẩn cố gắng làm vì ở thế chẳng đặng đừng. Anh đã nấu được nồi cơm to cho mười người ăn cùng các công việc khác mà không bao giờ tỏ ra buồn nản? Không biết trong đêm một mình nằm gác tay lên trán anh có nghĩ gì không? Chắc phải có!
“ Nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại” bọn Tuấn ở khám hơn sáu tháng với biết bao buồn đau, rồi cũng thích nghi! Bây giờ họ đưa đi lao động chốn rừng thiên nước độc U Minh nầy chắc rồi cũng vượt qua. Trong cuộc sống điều mình nghĩ tới thì vô vàng lo ngại nhưng bước chân vào cuộc rồi thì người ta không còn lý giải nửa mà cố ngoi mình trong tình huống để vượt sống. Cả một đoàn quân hơn ngàn người bị đưa vào đây với lời hâm dọa: Chung quanh đây là vùng của chúng tôi, người của chúng tôi, các anh đừng nghĩ đến trốn, chạy không thoát đâu! Cũng đúng như lời họ nói. Khi tù đi làm lao động bằng xuồng để tải đồ, trên các điễm dừng, có người dùng cái nón nhựa làm gàu kéo, múc nước từ dưới sông lên nấu cơm ăn, bị mấy gia đình gần đó chưởi rủa: Liệng bỏ mấy cái nón nợ máu đó đi, tui mầy còn bẹo nó làm tao ứa gan, liệng ngay! Vì mới xuống đây không lâu nghe họ la chưởi la, có anh bỏ tuột chiếc nón trôi chìm theo dòng nước. Tuấn nghĩ họ bị nhồi sọ quá mức cho nên mới ra nông nổi như vậy. Sau buổi đi lao động đó, trại ra lệnh thu hồi các nón nhựa và răng đe thêm: Đó các anh thấy dân ở đây họ hận các anh thế nào chưa? Cẩn thận không được đi đâu dưới ba người nhé! Tuấn suy nghĩ: Đây chắc lại là đòn phép để làm cái vòng vây, làm nản lòng cho ai muốn trốn trại chăng? Hơn sáu tháng bị giam giử ở trong khám, hơn sáu tháng ở trại tập trung Cần Thơ, Tuấn học được một đều mà trước đây khi nghe nói Tuấn chưa phân định rỏ “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hảy nhìn những gì Cộng Sản làm” của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Bây giờ thì Tuấn mới thấy ông nói đúng. Họ dùng chánh sách chiêu dụ, hăm he-bóp chặt-mở lỏng và bóp chặt hơn . Họ nói đi học mười ngày rồi về. Bây giờ thì ai học tốt sẽ được cứu xét cho về. Học Tốt! Học điều gì? Và cái gì để định giá cái tốt? Lâu lâu họ thả một nhóm ít người…xử một số người mà họ gán ghép nhiều tội danh lờ mờ. Người tù đành chấp nhận cho trôi qua ngày tháng với ước mong rồi mình sẽ được về với vợ con, gia đình! Chính cái ước mong nầy đã cho Tuấn và bạn bè vượt qua nhiều cam go buồn bã.
Đưa đoàn tù xuống đây với mục đích là xây dựng nông trường sản xuất Thống Nhứt. Công việc đầu tiên là tất cả tập trung đi phát hoang, đấp nền nhà, đốn cây, cất láng trại. Mỗi ngày toán trưởng lên C trưởng họp, nhận lệnh và về lều dẩn anh em đi làm. Lúc mới tới đây là vào khoảng cuối tháng giêng. Bây giờ là đầu tháng 4. Trời bắt đầu oi bức và có hôm mây đen vần vủ như sắp có trận mưa lớn. Những cánh rừng ngày xưa bây giờ đã được dọn trống trãi bạt ngàn. Vài căn nhà lớn đã được dựng lên theo từng khu vực. Nông trường bước đầu gần thành hình.
Mưa bắt đầu rơi hạt, đồng vắng loang loáng nước. Đội nông nghiệp được thành lập. Nhóm đầu đi gieo mạ. Nhóm khác đi thu dẹp các bã sậy được dọn theo nhiều luống trước đây, đem đốt làm phân. Mưa nặng hạt-mưa dầm dè mỗi bửa. Các căn lều nhiều khi bị gió thốc bay tốc một phần miếng nhựa. Cả nhóm 10 người loi ngoi uớt trong đêm che lại căn lều.
Mưa! Mưa ơi! Uớt đau người tù khổ!
Chớp ngang trời xé gió rách hồn tơi
Ta thấu biết một lần ta thua cuộc!
Mưa bao nhiêu đổ xuống lạnh run người
Bỡi vì đâu khí hùng xưa ngang dọc
Nay cúi đầu cam chịu dấu lòng đau !
Bởi vì đâu bỏ hàng buông tay súng?
Phút giây nầy đánh mất một mai sau!
Nước bắt đầu tràn đầy trên các cánh đồng. Mạ đủ sức cao để nhổ. Các toán nhổ mạ đẩy những xuồng mạ rải thành hàng trên phân ruộng. Mỗi toán 4 người cấy một công. Đất ở đây là loại đất do lá mục của khu rừng tràm trước đây bị máy bay khai hoang trong chiến dịch càng quét U Minh của mấy năm chiến tranh, cho nên nói đất nhưng thật sự là một lớp phân lá rất dầy cho nên phải dùng nọc soi lổ để cấy mạ. Một tay cầm tép mạ, một tay cầm cây nọc cấy. Người cấy dùng tay phải đâm sâu và tay kia cấm mạ xuống. Cứ thế bốn người giăng hàng ngang cấy cho hết thửa ruộng một công. Mặt nước lên láng, các đầu sậy phát chéo chơm chổm nhọn, nhiều lúc Tuấn cấm mạ xuống vướng bởi các đầu gốc sậy nhọn mà mấy anh bạn gọi là răng chó đâm xướt vào tay đổ máu. Mỗi lần bị xướt, cứ kê miệng hút máu tay, xé một góc lai áo cột rịt vết thương và cấy tiếp. Sau đó Tuấn cẩn thận hơn, đưa nhẹ xuống chứ không cấm nhanh như mới lần đầu. Buổi cấy lúc đầu cứ kéo dài đến trời xụp tối mới xong vì chưa quen với công việc.Vài tuần lể sau đó đội cấy có vẽ quen hơn. Nắng vừa xế là xong. Thế là một công rút lại còn ba và từ từ thành hai người cho một công. Bởi cái lệnh thi đua công cấy được phát động. Có vài nhóm làm quá nhanh nên tất cả phải chịu theo chỉ tiêu. Tuấn và anh bạn nha sĩ hộc hơi, đổ đớm mắt lúc mặt trời lặng mà chưa xong. Mấy anh bạn cấy xong vội nhảy xuống cấy hộ. Bởi lẻ đi có nhóm về cùng đoàn cho nên cả C cùng gánh với nhau cho xong việc. Mấy ngàn công ruộng đã xong, công việc còn lại là tiếp tục đào đất làm nền, vào rừng đốn cây to thã cộ theo dòng nước đem về cất trại. Chỉ tiêu đưa ra: Cây tràm nhỏ thì bốn, còn cây vẹt to thì hai cây. Suốt ngày ngâm mình dưới nước lội vào tận trong rừng sâu theo từng nhóm mươi người. Cây chặt xong, sau khi chặt cành lá, túm chụm lại và dùng dây chạy, loại dây leo ở trong rừng cột bó rồi máng vào vai kéo theo đường nước về nơi tập trung. Vùng U Minh có rất nhiều lạch xẽo nhỏ như mắt lưới, mọi người trằm mình dưới nước ngang ngực suốt ngày kéo gổ! Họ không bao giờ để cho tù ngơi nghĩ, cứ quần quật với lao động.Tuấn cãm giác quên mọi chuyện, cứ xong một ngày rồi về lại lều, cơm nước hát hò, rít thuốc lào với bạn bè rồi đi ngủ. Ngày mai lại tiếp tục công việc. Tuấn nghĩ mình vô tâm tự tại. Họ đã thành công huấn nhục nhóm tù. Chỉ còn lại là nổi mong đợi được họ thả về? Ôi! Một sự vong thân thật đau đớn và tội nghiệp!
Các dãy trại đã hoàn tất.Vào khoãng tháng bảy mưa dầm dề. Các lều được dẹp bỏ và mọi người được dọn về ở trong những căn nhà lớn vừa cất xong theo từng C. Lúc nầy toàn trại được thảnh thơi đôi chút với công việc đi đốn cây về là giường ngủ dọc theo chiều dài của trại, phía giửa là khoảng trống. Suốt cả tháng cả C đi câu cá, tìm thức ăn. Nước ruộng mênh mông. Cá từ cá khu rừng tràm sâu đổ ra. Các mương rảnh cá nhiều vô kể. Thả mồi câu xuống, cá ăn liền. Môt buổi đi câu Tuấn có thể đem về hơn một bao bố cá rô mề to gần bằng bàn tay xòe. Các bờ mương chuối thì từng bụi, quầy chín bói quằng trái, mặc sức mà cộ về. Mọi người được ăn ngủ thoãi mái nên da dẻ trở nên tốt hơn đôi chút. Đó lá lúc được cho viết thơ về nhắn người nhà vào thăm nuôi.Thì ra là vậy! Họ làm việc gì cũng có chủ đích. Họ không muốn người nhà, vợ con nhìn những tấm thân tiều tụy vì lao khổ.
Nhận được thư Tuấn, má mừng quýnh quáng đưa cho vợ Tuấn xem và nói: Con đi chợ mua một ít đồ về làm đồ ăn cho chồng con. Theo lời dặn của Tuấn trong thơ, vợ chàng mua thịt ba rọi kho với mắm ruốc, một lon Guigoz đường, một lon Guigoz đường trộn đậu phọng đậm dập với một ít muối và cuối cùng là một lon muối xã ớt.Tất cả là những món ăn dành để dự trử, còn các món ăn vài ngày như gà kho mặn, thịt kho mặn. Vì hơn một năm không gặp Tuấn nên chuyến nầy ba má, vợ con và đứa em gái thứ 7 cũng muốn cùng đi thăm. Đường đi xa diệu vợi, gia đình Tuấn phải đi xe đò cả buổi mới tới Cần Thơ, ngủ tạm nhà người bà con. Sáng hôm sau đón xe xuống Cà Mau, đi đò đổ về hướng Năm Căn. Đến nơi trời đã xế chiều. Đêm đến không ai thân quen, phải xin ngủ nhờ ngoài hiên nhà người dân như một số người khác cũng đi cùng chuyến thăm. Đêm tối vắng, gió rừng lạnh, muỗi bay rợp trời. Má ba và vợ Tuấn thay nhau quạt muỗi cho hai đứa con của chàng. Sáng ra muỗi đốt cả nhà đỏ đôi tay và mặt mũi. Sáng sớm phải thuê vỏ lãi cùng với nhóm người đi thăm nuôi, chạy hơn tiếng đồng hồ trên con lạch nhỏ dẩn vào trại tiếp tân. Vì nước quá cạn, chiếc vỏ lãi không thể vào gần trại tiếp tân được, nên mọi người phải gồng vát đồ đạt đi một khoảng hơn trăm thước. Một cuộc hành trình dài đầy vất vả cho một cuộc thăm nuôi hai giờ như trại ấn định.
Được toán trưởng đọc tên, Tuấn băng đường hơn cây số mới đến điểm tiếp tân. Từ xa Tuấn dáo dát nhìn trong nhóm người lóng ngóng ở ngoài căn nhà lợp bằng lá dừa nước. Tuấn thấy má ẫm đứa con lớn của Tuấn, còn vợ Tuấn bế đứa con thứ hai, đứa em gái và ba đứng gần bụi chuối. Tuấn chạy riết về hướng đó vì sợ không còn đủ giờ thăm. Tuấn ôm con hôn và hỏi: Ba má khoẻ không? Đứa em gái vô tư cười nói: Đâu thấy anh hai ốm! Vợ Tuấn thì hai hàng nước mắt chảy dài khi nhìn Tuấn trong bộ đồ lem bùn. Tuấn ôm ba má và nói mọi người vào một gốc ngồi bên trong căn nhà theo như qui định. Tuấn nói với vợ: Em đừng khóc họ không cho ai khóc lúc thăm nuôi. Nói là nói như vậy nhưng trong nhóm thân nhân thăm nuôi cũng có người vì quá xúc động dấu mặt khóc. Một thằng oắc con du kích đứng gần thấy nó quát: Được đảng cho đi học cải tạo, đảng cho đi thăm nuôi đó là ân huệ cho mấy người.Tại sao khóc. Hắn dứt câu: Không ai được khóc nghe không! Tuấn lầm bầm trong miệng: Đồ khốn nạn! Đồ vẹt con! Tuấn nén lòng, mọi người ở đây chắc cũng vậy….
Tuấn nhìn bàn tay má trổ tràm, đôi mắt như đục hơn trước, ba thì tóc bạc trắng. Chắc ba má rầu lo cho Tuấn biết là dường nào! Tuấn hỏi ba má về sinh hoạt buôn bán ở nhà. Ba nói: Tiệm mình đóng cửa rồi, nhưng ba má có cách lo xoay trở được con đừng lo. Ba vò tóc Tuấn như một đúa bé và nói con ráng giử gìn sức khoẻ. Vợ con của con để ba má lo không sao đâu! Tuấn ừ hử nhưng trong lòng xốn xang thương cho sự nghiệp ba mấy chục năm trời nay đã chấm dứt!
Tuấn ôm thằng con đầu trong vòng tay. Nó ngơ ngác nhìn mọi người. Ôi! tội nghiệp cho con tôi. Nó đâu hiểu tại sao lại có những người ngồi ở đây. Tại sao có người khóc.Tại sao thằng người kia quát la. Con ơi! Con đâu hiểu cái gian khổ, cái đau nhục của mọi người ở đây, trong đó có ba, có má, có ông bà nội và…Tất cả phải cam chịu trước cái đám vô học, mọi rợ như thằng nhóc du kích kia…!
Thằng con nhỏ cứ khóc nhè. Vợ Tuấn nói lúc chờ anh ở ngoài bị rớt cái núm vú nó thèm nên khóc hoài. Tuấn bế thằng lớn, vợ Tuấn ẫm thằng nhỏ đến xin tên nhóc du kích ra ngoài kiếm núm vú cho con. Khi Tuấn và vợ Tuấn vừa ra chổ đứng ban nãi thì thằng nhỏ thấy cái núm ở dưới nước ruộng, nó nói ngọng nghệu : Ó.. Ó. Tuấn cuối xuống vớt cái núm lên. Nó vói tay lấy cái núm vú đưa vào miệng núp và thôi khóc nhè. Tuấn trở vào với ba má và em gái chỉ được 20 phút thì họ tuyên bố giờ thăm nuôi chấm dứt. Má khóc nói: Ráng giử mình nghe con! Vợ Tuấn nói: Anh yên tâm, em ở nhà lo cho các con và chờ anh về. Tuấn ôm con, ôm má, vò đầu đứa em gái, gượng cười nói : Con vào trại, chắc không lâu đâu con sẽ về…?. Tuấn hôn nhẹ vợ và nói: Em yên tâm anh sẽ về…? Ba xiết tay Tuấn nói: Ba má về con ráng lo giử gìn sức khoẻ! Tuấn xách gỏi đồ ăn bước đi một đổi xa. Tuấn nhìn quay đầu lại thấy ba má, vợ con và đứa em đứng gần bụi chuối vẩy tay. Tuấn chạy một mạch băng đồng để không phải nghĩ ngợi vì niềm xúc động đang trào dâng lên khoé mắt. Tuấn khóc thật sự! Tuấn quay đầu nhìn lại. Tuấn không còn thấy bóng người thân. Hàng cây xanh che tầm mắt. Nắng xế chiều đỏ lòm một vừng mây….
Buồn con mắt ngó chiều xuống chậm
Rừng U minh tràm sậy khói mây mù
Đàn dơi che khuất vầng mây bạc
Gió rít từng cơn lạnh âm u
Ta nhớ mẹ ta mới sáng nay
Bươn rừng,tay nách cháu lên hai
Vợ ta quảy gói mồ hôi ướt
Tay dắt con thơ bước soãi dài
Lịch sữ sang trang ta thua trận
Làm tên “cải tạo” chốn rừng sâu
Đêm muổi U Minh như sáo thổi
Ngày rong đĩa vắt bủa vây bâu
Cơm muối rau hoang ngày đơm thực
Vài tháng thăm nuôi xẻ ngọt bùi
Mỗi bận ta đau lòng buốt tận
Nhìn mẹ,vợ,con..mắt lệ nhòa
Má nay tóc bạc già hơn trước
Mắt đục quần thâm nổi nhớ con
Tay má trổ tràm,vai áo bạc
Mới mấy năm thôi má cõi còm
Ba vuốt đầu con “con ráng học”
Sớm về đoàn tựu với làng quê
Mắt ba buồn tủi vì con khổ
Ôm siết vai con lòng tái tê
Hôn con se sắt buồn nát ruột
Cơ cầu nầy con gánh cùng ba
Đôi mắt thơ ngây nhìn dáo dát
Một tên cán bộ nói ba hoa
Em nắm tay anh run niềm tủi
Che dấu lệ nhòa manh áo tơi
Nước mắt bây giờ không được chảy
“Ân sủng đảng cho phải mĩm cười”
Rừng vắng chiều nay nắng vàng phai
Mấy thằng bạn láng nhóm điếu cầy
Thuốc lào nhả khói ngồi im lặng
Mỗi đứa như nhau một nổi đời
Ngày tháng kế tiếp là những ngày tiếp tục đấp nền, đốn cây làm nhà. Mưa bớt dần. Bây giờ là tháng 11, lúa bắt đầu trổ đồng đồng, những bầy cá rô, những bầy cá lóc trước đây còn nhỏ từ hướng rừng tràm đổ ra đầy đàn. Mỗi đêm ngủ nằm nghe cá ăn móng ùm ụp vang ngoài đồng. Mỗi đêm đi cấm câu tìm cá ăn chứ không còn đi xa nửa. Chung quanh dãy nhà là ruộng lúa xanh quằng nhánh. Chỉ cần mười cần câu cấm trong vài giờ là có cá ăn dư đầy. Những con cá lóc bằng cườm tay, những con cá rô cở ba ngón tay đầy giỏ. Nhớ hồi tháng 5 lúc còn ở lều trên bờ kinh. Hôm đó Tuấn và anh bạn ở nhà lo cải hoạt và anh nuôi. Đang lo không biết tìm câu cá ở đâu vì mới đầu mùa mưa nên khó tìm thức ăn. Cán bộ trại thì thông báo mọi người không được bắt cá ròng ròng, C trưởng nói: Chỉ ba tháng sau cá sẽ bằng cườm tay mặc sức mà ăn! Hôm đó Tuấn nghe tiếng ục ục của con cá lóc mẹ ở trước bờ mương.Tuấn ra xem thấy một bầy cá ròng ròng đỏ ối một khúc mương. Tuấn nói anh bạn nha sĩ: Mình làm càng thử. Anh bạn nha sĩ đồng ý.Tuấn và anh bạn đem cái mùng lưới ra, nhìn trước sau không thấy ai. Hai người nhảy xuống kéo một mùng cá, đem trút vào nồi…Tuấn đem muối đổ vào và đậy lại cho nó chết mau không thôi bị lộ. Bây giờ cá lớn bằng cườm tay. Anh bạn nha sĩ nói: Họ nói đúng quá phải không bạn!
Đồng lúa bây giờ vàng cháy. Mỗi C cử người canh lúa đuổi chim. Chim ở đây bay từng đàn mịt trời. Người giử lúa phải buột lon dây treo vắt ra đến giửa ruộng, làm hình nộm và la hoáng lên để đuổi bầy chim bay rợp trời. Nước bây giờ cạn ruộng, có hôm Tuấn nghe ục ục ở đâu gần chổ đứng, chừng tìm ra là cái hang to ăn vào gốc tràm mục. Tuấn cùng mấy anh bạn trong nhóm đào bươi bắt hơn năm con cá lóc to bằng cườm chân. Một anh bạn nói đùa: Cá nầy già có râu rồi các anh! Bọn chúng tôi có một bửa ăn cá nướng trui tại chổ, nhưng thiếu đế nhâm nhi..
Mùa gặt lúa đến, ba người một công gặt. Lúa được chất đống và gánh về chất đầy trước sân trại dựa. Máy đập lúa vang rền. Lúa được xếp đầy kho. Cả trại được nghĩ ngơi vài tuần đi hốt cá ở những hố bom vì đồng khô nước rút cá tụ về đó, cứ đem bao tới hốt cá đem về. Mọi người ăn không hết đem phơi khô. Cán bộ trại nói: Các anh phải dự trử đồn ăn khô. Mọi người ngầm nghĩ sẽ có một chuyển biến nào đây…? Qua hết mùa xuân đó có một số anh được cho là học tập tốt được trả về nguyên quán. Số còn lại không biết ngày về là đâu!
Nông trường Thống Nhứt được thành hình với những dãy nhà ở, nhà kho cho từng khu. Một cánh đồng lúa bạt ngàn trãi ra không còn là nơi trầm uất và u ám như trước. Đấy chính là công sức và khối óc của hơn một ngàn quân “Cải tạo”, ở vùng Cơi Năm nầy, nếu tính thêm vùng Hòn Đá Bạc của các nhóm khác thì hơn 2000 người. Với bàn tay và với các dụng cụ thô sơ, họ đã biến đổi mật khu của Việt cộng trước đây thành một nông trường sản xuất lúa gạo. Sự hiện diện của họ đã làm thay đổi bộ mặt rừng rú của U Minh. Họ đã thay đổi cả suy nghĩ của người dân ở đây về cái đám người mà trước đây họ bị tuyên truyền cho là tàn ác, thô bạo, chỉ biết bắn giết và hãm hiếp phụ nử. Những người “Cải Tạo”, chính họ đã cải tạo ngược lại đám du kích ngu dốt, đám cán bộ cuồng tín và đám dân bị nhồi sọ đầy gian ác của Cộng Sản.Với phong cách hiền lành trí thức, với trình độ hiểu biết và tài xoay trở, họ đã dạy cho đám dân, đám du kích và đám cán bộ biết đâu là sự thật, đâu là tuyên truyền vu khống. Người dân bây giờ đã thương mến người “Cải tạo” họ cho đồ ăn, cho dầu đốt và mỗi lần gặp là niềm nở chào đón thân tình. Người dân miền quê là như vậy, tình thương của họ lộ ra trong cách nói, cách làm không khách sáo, rất cởi mở. Nhóm của Tuấn gồm các nha, dược, bác sĩ đi lao động, một hôm ghé nhà một nguời dân xin nhường bán cho một ít dầu lửa để đốt đèn. Sau khi hỏi thăm chúng tôi trước làm ở đâu? Chúng tôi nói là làm ở bệnh viện Bạc Liêu. Chị nầy nói hồi năm 1972 khi sư đoàn 21 bộ binh càng quét vào đây chị và chồng bị thương, được trực thăng tãi thương về bệnh viện Bạc Liệu và nằm điều trị ở trại 4. Chị nói b/s điều trị cho chị là b/s Nh. Tuấn nói chị biết cô y tá Tên Chi không? Chị nói tôi nhớ, cô ấy tốt và tận tình lo cho chúng tôi. Anh bạn nha sĩ mau miệng: Chị Chi là vợ của anh nầy đó, anh chỉ tay về phía tôi. Chị tỏ ra mừng rở và hỏi: Chị có khoẻ không và có vào đây thăm anh không? Tuấn cười và nói có vô đây thăm một lần. Chị nói lời tri ân và cho chúng tôi một chai dầu lửa cùng một quày chuối…Sau đó vì biết nhóm y, nha sĩ nầy, nên một số người dân địa phương bị bịnh hay đau răng có đến trại xin chửa giúp. Sự việc trên đã làm mất mặt đám trạm xá, nên lệnh cán bộ trại: Cấm là trại viên không được tiếp tục công việc như vậy và cấm tiếp dân tại láng trại. Các cán bộ trại thì nay không còn e dè cách biệt như trước họ gần gủi với trại viên hơn, đôi khi còn mang rượu tới nhâm nhi với anh em. Có hôm sau khi nhâm nhi vài ly rượu một anh cán bộ dân Hà Tỉnh nói “Nếu bác Hồ chọn miền Nam, miền
Nam thắng miền Bắc thì chúng tôi cũng như các anh thôi.” Anh còn nói: Vì chánh sách chung chúng tôi phải thi hành vài điều ngoài ý muốn của chúng tôi… các anh ráng chờ thời gian sẽ được về thôi. Chúng ta là anh em! Tuấn nghi ngờ không biết anh ta có nói thật lòng không hay chỉ đưa giọng. Cái dáng anh ta có vẻ chân tình lắm!
Khi những mương nước gần khô.Trời tháng giêng với những cánh đồng trơ gốc rạ. Con chim quốc ở đâu kêu quốc quốc ngoài xa. Đó là lúc tin tức chuyển trại được chuyền miệng. Đó là những buổi họp kiễm điễm thành tích, thông tin một vài trại viên trốn trại bị bắt lại và bị ra tòa kêu án tù. Cái màn cũ cứ lập đi lập lại. Tuấn buồn rầu nhìn bầy chim đen trời bay về đâu đó trong chiều âm u.
***Cơi là tiếng người địa phương nói trại tiếng kinh. Ở vùng U Minh cứ 1000 mét lại có một con kinh nhả phèn. Cơi 1, cơi 2…...
Khác với ở Rạch Giá người ta gọi là kinh 1000, kinh 2000…
Ngoài còn có những con kinh nhỏ xẽ ngang như bàn cờ.
(Khắc ghi những ngày tù ở vùng Cơi Năm U Minh hạ)

No comments:

Post a Comment

NHỮNG ĐOẢN VĂN

BÓNG NHỚ

Anh Hai thường than thở: “Sao cứ mỗi khi Tết về là nhớ nhà quá chừng. Nhà ở đây là chốn quê hương ở Việt Nam. Một nơi mà anh Hai đã bỏ đi gần hơn 40 năm rồi. Hồi đó thời gian sao mà nó dài quá chừng. Năm năm học trường Quận. Năm năm lên trường Tỉnh. Mấy năm trên Sài Gòn. Anh thấy sao mà nhiều kỷ niệm quá…hình như đầy ấp theo những ngày tháng đó. Anh nhớ bạn bè, anh nhớ mái trường, lớp học. Anh nhớ từng con phố, ngỏ hẻm. Anh nhớ biết bao nhiêu chiều thứ Bảy, Chúa Nhật dạo phố Sài Gòn. Anh nhớ hương vị bò bía, nước mía Viển Đông…Anh nhớ chiều công viên ghế đá với tiếng thầm thì của người yêu… Anh nhớ từng cánh đồng và những con sông. Anh nhớ từng ngọn cỏ, cọng rau. Anh thèm những món ăn rất đạm bạc như cá kho tộ, tô canh chua tép với rau nhiếp, mò om. Anh nhớ tô bún nước lèo ngoài đầu chợ Tỉnh. Anh nhớ trái ổi, trái bần ở dưới quê…Anh nhớ từng khuôn mặt trong mái ấm gia đình…Anh nhớ đủ thứ hết. Mỗi lần nhớ là hình bóng những thứ đó cứ lởn vởn trong đầu óc, anh muốn bay về Việt Nam cho thật nhanh…

Rồi một lần anh Hai có dịp về lại Việt Nam. Máy bay quần một vòng từ độ thấp. Anh ngó Sài Gòn ở phía dưới, xe cộ chạy như những đàn kiến bò trên đường. Những ngôi nhà cao, thấp xen lẩn trong ánh nắng ban mai hồng hào. Chiếc máy bay đáp lướt trên đường băng. Anh nhìn bên ngoài còn những dãy rào thép gai và những hầm hố công sự của một thời chiến tranh vẫn còn đó. Bước ra khỏi cánh cửa máy bay.Trời nóng hừng hực. Anh bắt đầu lột áo bớt ra…cho đến khi chỉ còn cái áo ngắn tay mà sao vẫn còn thấy nóng oi cả người. Qua các cửa ải, anh bắt gặp nhiều gương mặt nhìn anh không mấy gì thân thiện. Gặp lại người thân. Anh có được mấy cái ôm thân thiết và nụ cười đầy nước mắt của những người nhà làm anh thấy ấm áp và xúc động vô cùng!

Chiếc xe 12 chổ ngồi mà người nhà mướn từ dưới tỉnh lên rước anh về, chạy trên đường như dồn đống xe hơi, xe gắn máy, cùng khói bụi mịt mù. Anh nghĩ “Chắc như vầy thì làm sao mà anh dám lái xe một mình đi trên các con đường nầy”. Đi qua các đường phố, anh cố nhìn cho kỷ, nhưng chẵng biết đâu là các con phố quen ngày xưa. Anh cứ hỏi hết đường nầy đến đường khác. Thằng em của anh

chỉ trỏ và nhắc các tên đường…nhưng anh không còn thấy bóng dáng nào của những con đường thân quen thuở xưa…

Về tới quê, nơi căn nhà của ba má anh thuở xưa thì vẫn còn nguyên như cũ, mọi thứ có hơi thay đổi đôi chút nhưng tuyệt nhiên nếu nhấm mắt lại anh cũng sẽ đi từ trước ra tới sau bếp…đều nầy làm anh xúc động đến rưng rưng hai giọt nước mắt…

Đứa em dâu nấu buổi cơm với mấy món mà thiếm biết anh rất thích thuở hơn 40 năm trước. Cơm nóng, canh nóng cộng với cái nóng của căn nhà. Anh vừa ăn vừa lau mồ hôi. Đứa em trai hỏi: Uống chút rượu nghe anh …Anh lắc đầu nói: Nóng thấy mồ uống gì zdô…

Suốt hơn gần 3 tuần lể trôi qua, anh Hai có dịp đi đây đi đó. Ở mọi nơi chốn đều đổi thay, không còn như anh tưởng. Anh ăn uống nhiều thứ…nhưng… thấy sao mà không ngon như lúc trước. Cả tô bún nước lèo thịt heo quay mà anh thích nhất cũng vậy…Anh nghĩ chắc tại ở bểnh mình ăn đầy đủ quá rồi đâm ngán …?

Ra Giêng, vào ngày đám giổ ba của anh. Bà con nội ngoại, chòm xóm tới nhà nhộn nhịp. Các bà mỗi người một việc cùng xắng tay nấu nướng ở sau nhà bếp. Cái không khí nồng ấm và hình bóng xưa cứ chạy suốt trong tâm tưởng. Anh hai ngồi nhớ một hồi rất lâu…Anh lấy tay quẹt nước mắt…

Ngày trở lại Mỹ. Chiếc máy bay đáp xuống phi trường. Anh ra khỏi khoang máy bay, bước vào nhà ga với không khí mát rượi. Anh Mỹ đen rà cái pass board xong, ngước lên mỉm cười và nói: Well come back USA…

Chiếc xe hơi thân quen của đứa con ra rước anh chạy trên xa lộ. Anh cảm thấy thoải mái và an toàn vô cùng. Anh Hai hơi đói bụng.Thằng con chở anh đến quán phở quen. Anh ăn ngon lành tô phở gần như cạn nước…

Đêm mới về lại căn nhà ở bên nầy, anh bị mất ngủ vì trái giờ, quen giấc gần hơn cả tháng ở Việt Nam. Anh nằm gát tay lên trán mơ màng…Anh chợt thấy một điều gì đó… hình như là …BÓNG NHỚ vừa hiện ra trong tâm hồn mình…!

H ÌNH NH Ư

Trong thời chiến tranh, anh luôn đối diện với biết bao hiễm nguy của chiến trường. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu đồng đội ngã xuống, biết bao nhiêu đối phương phơi xác trong các hố hầm, biết bao người dân chết oan uổn giữa hai lằn đạn. Anh đã mất đi cái thăng bằng trong cách sống. Anh thiếu vắng thời gian để có cái dịu dàng ấu yếm trong tình yêu, trừ một mối tình trong tuổi còn học trò. Bây giờ anh sống vội vả với những ngày nghĩ phép hoặc những buổi không đi hành quân. Tình yêu tinh khiết dường như không còn ở lại với anh. Anh đến với những cuộc gặp gở bất ngờ. Anh vồ dập với những cơn luyến ái trong hơi men. Lời nói yêu đương chỉ là cái lý giải để anh chiếm đoạt người tình hơn là là sự rung động thật sự của con tim. Từ đó anh vô tình đã để lại bao nhiêu hậu quả cho những người con gái đến với anh: “Nước mắt, sự đau khổ, có cả những hệ lụy trong tai nạn ái ân vội vã đó.” Chiến tranh đã đẩy cuộc đời trai trẻ của anh vào cơn lốc xoấy của cơn lửa táp, đạn vèo. Anh như bị đánh mất bản chất con người của anh trong cơn biến động đó.

Đến một lúc rồi anh cũng phải có vợ. Cưới vợ như là một định kiến của gia đình, thân tộc và định vị lứa đôi của cuộc sống đời thường.

Thời gian trôi nhanh…Anh nhìn về phía trước một đoạn đường lấp ló buổi chiều tàn. Đôi lúc anh quay đầu nhìn về quá khứ. Một thời gian dài hơn 40 làm vợ chồng đã trôi qua trong bao gian truân khốn khó...Bây giờ hai người đã già, không còn đi làm nữa. Con cái đã có gia đình và có cơ ngơi ổn định. Hai bóng già lặng lẻ sống bên nhau trong gia đình càng lúc càng tróng vắng…. Không biết có phải vì biến thái của tuổi già hay vì tính khí khác biệt của mỗi người mà sự va chạm thường xuyên có dịp khoấy lên..? Có một cái lực vô hình nào đó đẩy mỗi người mỗi ngày một xa. Cái xa không phải là khoảng cách mà xa trong tình cảm …? Suốt hơn 2 năm vợ chồng sống chung nhà, nhưng mỗi người mỗi phòng riêng.Sự gìao tiếp với nhau bề ngoài cũng rất bình thường vì bổn phận làm cha, làm mẹ với những đứa con, làm ông bà với những đứa cháu và vì sự giao tế bạn bè thân thích. Nói tóm lại, mỗi người ráng đóng vai trò cho thích hợp với mọi hoàn cảnh. Đến một ngày vợ anh bệnh nặng và tách hẳn về nhà đứa con gái để tiện viêc chăm sóc, thì sự xa cách bị đẩy xa thêm.Thỉnh thoảng anh về bên nhà con gái để giúp đưa vợ đi nhà thương hoặc làm một vài cử chỉ nặng về phần an ủi nghĩa tình, dù sao 2 người cũng có mấy chục năm chăn gối.

Mấy năm liền anh sống trong căn phòng đơn chiếc với những sinh hoạt tự túc châm lo cho mình và thằng con út còn đi học. Thời giờ còn lại, anh tìm quên trên bàn máy vi tính với những bạn ảo trên Net và trên Facebook. Những bài thơ, những bài văn lúc nầy được trải ra nhiều hơn. Khoảng lấp nầy cũng chỉ giới hạn chừng mực nào đó…còn lại nỗi cô đơn của tuổi xế chiều đang còn sức luyến ái, đôi lúc bậc dậy trong anh những cơn thèm khát xác thịt. Anh cũng chỉ dằn lòng lại thôi…

Nhiều lúc ngồi một mình, anh nhìn lên khoảng trời mịt mù sương khói, cánh chim nào đó bay trong trời giá lạnh, về một hướng rất xa xăm…. Quỷ thời gian của đời sống không còn bao nhiêu nữa là hết. Anh chợt thấy buồn buồn cho cuộc đời mình…Anh như cánh chim kia cứ bay đi thầm lặng đến cuối chân trời.Trong một khoảng riêng buồn…anh thấy có một nỗi hụt hẩn rất lớn trong tâm hồn… hình như tình yêu thực sự đã mất trong anh tự bao giờ…!?

CUỐI NĂM XỨ NGƯỜI

Do hiện tượng thời tiết, cả gần hơn tháng nay trời cứ mưa liên tục. Mưa không lớn. Mưa rỉ rả. Gió lạnh lùa ngang cây trơ cành bên ngoài. Bầu trời một màu xám mờ. Trời không băng giá, nhưng những cây loại nhiệt đới được đặt bên trong mái hiên nhà sau thì ủ rủ gần như trân mình, bầm lá, mặc dù được che bởi những mảnh nilong.

Buổi sáng ngồi uống cà phê, nhìn cây mai tứ quí nhú mầm nụ hoa. Tháng cuối năm âm lịch sắp hết. Ừ cuối năm rồi! Cuối năm của một khoảng đời gần hết. Cuối năm chập choạng với những ngày lặng lẻ. Cuối năm với cơn mưa lạnh nơi xứ người. Cuối năm tôi co ro như những cành cây nhiệt đới. Cuối năm chẵng có niềm vui nào trổi dậy trong hồn. Cuối năm lẩn thẩn với mớ nghĩ suy quanh quẩn rồi than thở một mình. Cuối năm xứ người sao buồn quá…!

LẨN THẨN 30

Vợ tôi nói: Năm nay tháng 12 thiếu, không có ngày 30 đâu nghe ông! Có đi đâu chơi nhớ về nhà để cúng cơm mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào buổi trưa … Em chuẩn bị mâm ngủ quả để cúng mừng vui năm mới. Anh nhớ mua phong pháo đốt lúc Giao Thừa để xóa đẩy hết những đều không tốt của năm cũ. Nhớ là ngày 29 đó nghe! Tôi ừ ừ ...đàn bà có khác…! Cái gì mà phải nhắc nhở ....năm nào cũng vậy mà….! Nhưng tôi chợt nhớ lời bà xã … năm nay không có ngày 30 đó nghe. Ừ…Ừ… không khéo lại quên mất…Tôi thẩn thờ nhớ: Đêm 30 xưa nơi quê nhà trong thời thơ ấu bên mái gia đình êm ấm. Đêm 30 lê bước trên phố khuya với lòng trỉu nặng tình buồn. Đêm 30 nơi trại lính trong thời chiến tranh với rượu nát tàn canh. Đêm 30 nơi “Trại Cải Tạo” sau ngày 30 tháng Tư với nỗi buồn cho một ngày mai vô định! Đêm 30 nơi đất khách với cảm giác buồn nhớ quê hương. Một nửa cuộc đời nơi quê nhà với bao thăng trằm cay đắng. Một nửa cuộc đời bình lặng nơi đất khách quê người với bao nỗi trằn trọc, thao thức về đất nước quê nhàThoáng chốc đã hơn 70 năm làm người!

Năm nay đón Giao Thừa nhầm ngày 29…Tôi chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó…vì không có ngày 30 “Em đến thăm anh đêm 30…còn đêm nào buồn hơn đêm 30…Anh nói với người phu quét đường…Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”.

SAU NGÀY 30 THÁNG TƯ

Tôi có người anh bà con, ba anh đi kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông hy sinh lúc Hiệp định Geneve vừa ký xong…1954 anh bị đưa ra Bắc lúc anh mới 12 tuổi. Anh thực sự nghĩ cái chết của ba anh bởi lòng yêu nước c ũng nh ư bao nhi êu ng ư ời tham gia kh áng chi ến th ời đ ó. Mấy chục năm ra Bắc, anh bị nhồi nhét lý tưởng Cộng Sản. Họ chèn ép nhân dân và thanh niên miền Bắc vào khung hận thù miền Nam và Đế Quốc Mỹ.Thật sự chủ nghĩa Tự Do của miền Nam và Đế Quốc Mỹ anh chưa bao giờ biết rỏ. Anh bị bưng bít sự thật và chỉ biết qua tuyên truyền là nhân dân miền Nam sống trong áp bức, đói rách, bần cùng…

Tôi được 11 tuổi, sống và lớn lên trong miền Nam. Tôi được đào tạo trong cái nôi Tự Do - Dân Chủ.Thực sự tôi không biết cái giá trị nầy ở mức độ cần thiết là bao nhiêu.Từ lúc nhỏ tôi nghe tuyên truyền chủ nghĩa Công sản là tam vô, là đôc ác, là bần cùng hóa nhân dân.Thực sự tôi không hiểu cái mức độ độc ác của Cộng sản là tới mức nào. Tôi rất mơ hồ khi ngồi trên băng ghế nhà trường, khi vào quân ngũ, cả khi buông súng đầu hàng khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, Tư lệnh tối cao của quân đội hạ lệnh đầu hàng. Tôi và bạn bè đồng ngũ chỉ tức tối vì nghĩ rằng mình đâu dể bị thua bộ đội miền Bắc! Và thêm nữa…Cả miền Nam chắc cũng ngớ như tôi (Chỉ những người Bắc di cư 1954 là hiểu về Cộng Sản qua các cuộc đấu tố và cải cách ruộng đất lúc đó…)

Sau 30 tháng Tư năm 1975 người anh từ miền Bắc về Nam.Việc đầu tiên là anh quá ngỡ ngàn trước một Sài Gòn diểm lệ. Việc thứ hai là căn nhà của má anh là một căn nhà gạch mà anh phải thốt lên: Căn nhà thế nầy phải là cấp bộ Trưởng mới có được…rồi ngày tháng năm kế tiếp…tất cả đã làm anh từ băn khoăn và rồi đến lúc nói với tôi: Bọn mầy để miền Nam bị mất thật uổn…Bây giờ làm sao lấy lại được…?!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Dương Thu Hương ngồi bên lề đường úp mặt khóc vì một Sài Gòn phồn thịnh mà bị mất vào tay ‘Ăn Cướp”…

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 hàng hóa,vật liệu, lúa gạo miền Nam chở ra tiếp tế cho miền Bắc. Thanh niên nam nữ miền Bắc mơ vào Sài Gòn như mơ đi nước ngoài …

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhóm chóp bu lảnh đạo chia nhau làm giàu. Một loại Tư Bản Đỏ mà trong nước gọi là Nhóm Quyền Lợi...sắp bán đứng quê hương cho Tàu….!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 người dân cả nước mất hết Tự Do-Dân Chủ-Nhân quyền…!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975…mới đây nhất một nhà sữ học nổi tiếng trong nước nói đại ý như vầy: “Chế độ Cộng Sản là không tưởng…có đâu mà tiến tới”

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975: AI THẮNG AI….?

Sau gần mấy mươi năm anh em có dịp gặp lại. Anh nói với tôi: “Tao đã bị lừa mấy chục năm khi còn ở ngoài Bắc. Tao bị phản bội sau ngày 30 tháng Tư chính những đồng chí của tao…!.Tôi nói với anh: “Trước đây tôi cầm súng chống Cộng Sản mà chưa biết Cộng Sản thế nào...! Sau ngày 30 tháng Tư, tôi còn mơ hồ về họ..! Lúc tôi biết họ là ai thì đã muộn…Tôi đã bị đánh mât quê hương và bị sống xa tổ quốc…!

Tôi và anh ai buồn hơn ai?


Hoa ơi! Đừng kết trái

Khi mới dọn nhà về, phía sau là một khoảng đất trống.Vợ chồng chúng tôi phát họa một sân sau với vườn rau, cây trái.Vài năm sau, phía sau nhà có vườn rau và cây ăn trái, căn bản là các loại rau ăn hằng ngày: Rau râm, rau húng cây, rau húng lủi, rau dấp cá….Cây ăn trái như chanh, quit, cam, hồng, táo…Thấy đất còn trống chổ nào là tôi tha cây về trồng thêm.Vợ tôi cằn nhằn: “Ông trồng nhiều cây ăn trái, ráng thu dọn lá và mấy trái cây rớt…em lo không kham đâu a..?”. Nói là nói vậy nhưng tới mùa , cây nở hoa, kết trái thì vợ chồng tôi ra vườn sau đi nhìn từng nhánh, từng đóa hoa, chờ cho tới ngày cây đơm trái…nhìn những đọt rau thơm. Chúng tôi hái từng loại trái cây cùng ăn, cùng khen ngon ngọt…Chúng tôi có những cọng rau thơm cho một buổi cả nhà ăn bánh xèo…

Cách đây mấy tuần vợ tôi trở bịnh, lúc tôi còn ở Việt Nam và sắp tới ngày trở về.Tôi biết căn bịnh của vợ tôi trở lại lần nầy khá nghiêm trọng. Tuy nhiên chỉ còn đôi ba ngày nữa, tôi e khó đổi vé bay, nên nán lại…Chỉ việc nầy thôi làm vợ tôi giận hờn và trách cứ…!

Bây giờ vợ tôi phải điều trị lại và phải có sự châm sóc đặc biệt. Con gái tôi nói: “Thôi! Để má về ở với con, con sẽ xin nghĩ vài tháng để lo săn sóc và nấu ăn cho má. Nhà con thích hợp hơn. Khi má khoẻ lại sẽ về nhà ba…”

Mấy mươi năm chung sống. Mấy mươi năm gầy dựng gia đình, nuôi dạy con cái thành người lớn khôn và thành đạt nơi xứ người. Cho dù đời sống chung đụng vợ chồng sao tránh khỏi va chạm, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua…Cái nghĩa tình mấy chục năm gắn bó, làm sao mà dể bức rời.! Đến tuổi hưu, đáng lẻ chúng tôi cùng sống khoẻ mạnh bên nhau để hưởng những ngày còn lại của cuộc đời, cùng chia sẻ vui buồn trong cái quỷ thời gian còn lại không bao nhiêu. Cơn bịnh lần nầy sẽ làm sự sống của vợ tôi đau đớn và bất ổn…Sự kiện nầy làm tôi tan nát cõi lòng và ân hận.

Hôm nay ra vườn sau. Trời vào Xuân đã lâu. Các loại rau nức đất, trổi mình sau mùa lạnh giá, các loại cây ăn trái với chồi non xanh, hoa kết nụ…. Cây cam, cây quít, cây táo… hoa rụng cánh sắp kết trái. …Tôi đi thơ thẩn trong nỗi buồn buồn ray rức. Nhìn lên các cành cây, tôi nói thầm: Hoa ơi! đừng kết trái, năm nầy vắng người vợ thương yêu…Mùa nầy đâu có ai cùng chia sớt niềm vui…!!!

Mùa nầy hoa nở…thôi thành trái

Lòng ta rụng nát những niềm đau

Em ơi! vườn vắng em rồi đó

Hoa trái mùa nầy…Thôi tàn mau!

Cảm giác bềnh bồng

Mùa Đông đến. Khi tôi ngồi uống tách cà phê sáng ngoài hiên sau nhà, nhìn bầu trời như thấp xuống với những đám mây phù thủy vạn hình không rỏ nét. Những cành cây khô trong mù sương đứng trơ trơ, trân mình trong cơn lạnh. Tôi mường tượng một điều gì đó rất xa xăm. Tôi hơi hụt hẩn trong mỗi lần mò về quá khứ.

Bên nhà hàng xóm có tiếng vọng âm thanh của bài hát “Bài Thánh Ca Vô Cùng”. Tôi chợt nghĩ “Mùa Noel” sắp về…Và nhớ về mùa Noel năm xưa…

Trước đây còn đi làm ở một cửa hàng bách hóa. Cứ gần đến Noel là họ mắc dây đèn, trưng bày cây Noel và hàng hóa cho mùa lể gần cả tháng trước. Các món hàng được hứa hẹn là on sale trong ngày 24 tháng 12 và sau ngày 25 tháng 12. Ngày Lể coi như hiện diện ở tôi với chiếc mũ đỏ của ông già Noel để làm dậy lên cái không khí mua bán nhộn nhịp của cái thương hiệu Super Walmart.Từ ngày nghĩ việc về hưu, tôi chỉ lặng lẻ nơi căn nhà, ít muốn giao lưu với ai. Mỗi sáng ngồi uống café một mình. Mỗi ngày lên máy computer để xem tin tức, lướt qua Facebook và viết một vài câu thơ hoặc viết tiếp cái truyện còn dang dở.

Mỗi ngày tôi bềnh bồng với những mớ hoài ức khi nhìn ra ngoài trời mây. Mây cũng bềnh bồng theo từng ý nghĩ chập chùn gợi nhớ...

Khi ngồi trước khung máy. Tôi bềnh bồng với hình ảnh, chữ nghĩa. Tôi bềnh bồng với những nghĩ suy. Tôi theo với những dòng chữ. Tôi theo với ngón tay đưa đẩy con mouse. Tôi theo với cái kéo mủi tên lấp thêm mớ chữ vào bài viết. Ở đó là quá khứ. Ở đó, là hình ảnh của một thời rất xa xưa. Ở đó, là từng chập mây khói bay qua trong cảm giác và hiện rỏ qua dòng chữ. Có khi tôi chợt khóc. Có khi tôi chợt vui. Có khi tôi xao xuyến. Có khi tôi rạo rực. Có khi tôi ngộp thở...Tôi miên mang với từng ngón tay trên phím chữ. Ký ức dội về trong “Dòng Trôi Cuộc Đời”…Bản thảo viết về cuộc đời của tôi.

Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ ngưng tay. Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ hết còn suy nghĩ.Tôi thả thân nằm xuống, xuôi bỏ cuộc đời..! Lúc nầy hồn tôi sẽ bềnh bồng vào cõi hư vô. Hiện tại và quá khứ sẽ chỉ còn ở lại với những dòng chữ bềnh bồng…Không biết có đáng giá gì không? Nhưng ít ra tôi biết, tôi đã làm một điều mà tôi rất thích.Chỉ có vậy thôi…!

LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH

Viết tặng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Tôi vốn người gốc miền Tây Nam Bộ,…Thuở nhỏ tôi mê văn Hồ Biểu Chánh, tôi khoái văn vẻ của ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, sau nầy là Hồ Trường An. Tôi thích cái mộc mạc của người miền Nam, đặc sệt những âm điệu dân dã qua các câu chuyện. Sau nầy khi lớn lên, tôi đọc nhiều tác phẫm của các nhà văn khắp xứ của miền Nam trước năm 1975. Nhưng cái cảm giác ăn sâu vào tâm não vẫn là những tác giã mà tôi thích như nói ở trên. Khi ra nước ngoài tôi mang theo một số tác phẫm còn ít oi sót lại trên kệ sách để ở nhà của ba má ở dưới quê, những trang sách với những chữ in bằng khung in chì trên những trang giấy in đã biến thành úa vàng…Tôi trân quí các quyển sách đó và lâu lâu đem ra đọc…Lúc đọc, tôi bắt nhớ nhiều thứ vụn vặt vào cái thời thanh niên mới lớn của mình, như khi ra nhà sách Khai Trí, đi chộn rộn vào những chiều thứ Bảy qua những kệ sách bên dưới cho tới tần lầu phía trên….Thời gian đó tôi tập sự viết văn, thay vì làm thơ như mọi khi…Tôi muốn viết theo phong cách của những nhà văn mà tôi thích. Tôi viết đâu đó vài cái truyện ngắn…Tôi đọc đi đọc lại thấy kỳ kỳ, rồi xé bỏ vì muốn bắt chước mà không được…văn nó phát ra từ nguồn cảm hứng và thể hiện bản chất tự nhiên của người đó, bắt chước làm gì, mà có được cái giãi gì đâu…?Nghĩ vậy tôi bỏ viết truyện luôn. Sau nầy tôi có viết lại nhưng là từ cách viết nhật ký, rồi quen dần viết truyện ngắn qua cách thể hiện như viết nhật ký…viết từ cuộc sống của tôi và tôi vui vẻ ở lại với dòng viết nầy…

Khi qua Mỹ, vì bận bịu với công ăn việc làm, tôi đã bỏ hết thú đọc sách và bỏ luôn chữ nghĩa. Tôi chỉ đọc thoáng qua mấy tờ báo biếu về tin tức và vài mẫu chuyện cũ in lại. Cho đến một hôm ra nhà sách, tôi cầm lên một quyển sách mỏng với tựa là “Cánh Đồng Bất Tận”. Anh chủ quán ngó về phía anh và nói:Anh mua quyển nầy về đọc đi, anh bạn của tôi mới về Việt Nam mang qua vài cuốn cho tôi bán thử.Vốn là người không ưa mấy quyển sách của các tác giả viết sau năm 1975 vì đa số viết theo chánh sách và chỉ đạo của nhà nước. Tôi tò mò lật đọc vài trang…Tôi lại đọc tiếp, một sự thu hút quá nhanh đến với tôi qua những dòng chữ đặc sệt miền Nam.Tôi ngưng đọc và thầm nghĩ phải mua quyển sách nầy về nhà đọc mới tận hưởng hết những cảm giác mà từ lâu rồi tôi mới bắt lại được…Từ đó tôi đâm mê giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư và viết thư về cho đứa cháu ở Sài Gòn tìm mua các quyển sách mà Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gời qua bên nầy để đọc. Thời gian sau nầy khi bắt trớn viết lại, tôi hay làm thơ, viết văn và giao lưu trên Net…Cách đây hơn 2 năm, tôi bắt gặp Nguyễn Ngọc Tư trên Face Book và mò tìm thấy Bloggs của cô. Tôi liên kết vào trang Bloggs của Tư và từ đó tôi đọc bài viết của Tư trên Net. Biết cô còn trẻ, sinh sau năm 1975, tôi càng ái mộ cô về cách thể hiện tâm trạng của cô qua các bài viết ngắn, rất đổi đời thường, nhưng phản ảnh được cái xã hội của miền Nam sau năm 1975, nhất là các đề tài quanh quẩn nơi cô sinh sống, đất Cà Mau…Nơi chốn, sau 1975 tôi là một người tù”Cải Tạo”. Đầm mình trong những tháng ngày nơi vùng đất U Minh “Muổi kêu như sáo thổi-Đỉa lềnh như bánh canh”.Thời gian nầy tôi tiếp xúc được với người dân U Minh.Ban đầu họ còn xa cách và hận thù với những người của chế độc cũ, dần dà họ thân thiết và thật sự có cái nhìn khác về những người lính VNCH.Có một dịp ghé nhà một người dân., tôi thấy một em bé cở hơn 10 tuổi, ngồi cậm cuôi viết chữ I,T, một em lớn hơn chắc là chị của bé đang ngồi trả lời vài câu hỏi trong bài văn.Tôi thấy thương cho các em, tới tuổi nầy mới được cấp sách đến trường. Thấy tôi nhìn vào trang sách, em nói:Chú ơi! dùm góp ý với cháu để trả lời câu hỏi nầy “ Trong thời chiến tranh, một anh du kích giết được 4 tên lính ngụy, một anh khác giết thêm 5 tên lính ngụy…câu hỏi:Vậy ta đã giết tổng cộng được là bao nhiêu tên lính ngụy”.Tôi đọc câu hởi với sự khó chịu trong lòng mà không nói gì cả.Tôi buồn buồn cho một thế hệ con trẻ với cái lối dạy dổ lòng câm thù và nuôi lòng câm thù của nhà cầm quyền mới cho các cháu mà thực sự các cháu không biết.Thấy tôi ngần ngừ, mẹ của cháu nói:Mầy ráng làm đi đừng hỏi chú ấy…!

Thời gian trôi qua, bây giờ tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư trên Net, tôi chợt nhớ về chuyện cũ, vào thời đó chắc cô cũng chỉ vài tuổi và cũng từng học như vậy khi đến tuổi đi học…Bây giờ cô lớn lên, cô thực sự thấy bao điều của vùng đất cô ở, những thay đổi quá ngao ngán của một xã hội “Ưu Việt”mà sản sinh ra những con người quá dã man, những con người cho là vĩ đại mà rất đốn hèn…Những bài viết của cô làm tôi say mê đọc. Với một gốc nhìn không quá bi quan về những mầm non trổi lên mạnh mẻ trong bùn đất, bật lớn tươi tắn dưới ánh mặt trời chân lý, làm một con người chân chính trong một xã hội đầy dẩy bất lương.


MÙI TẾT

Hồi còn nhỏ, ở quê nhà…Lúc đó tôi cỡ hơn 10 tuổi.Mỗi năm cứ vào gần hết tháng 12, gió từ cánh đồng phía tuốt ngoài ruộng, sau nhà thờ Tin Lành thổi về với mùi rơm rạ còn mới.Mùa lúa vừa gặt xong còn trơ những gốc rạ và những vũng nước bùn.Cái mùi nồng nồng, hăng hắt đưa vào hai cánh mũi của tôi.…Gió từ bờ sông phía bên kia nhà lồng chợ, cũng đưa thêm về cái man mát gay gây. Những cơn gió cuối năm đôi khi thốc mạnh làm cuộn lên những dề cát cuốn ụp vào người, tôi bụm hai tay che mắt. Lúc đó, tôi nôn nao trong lòng vì biết rằng Tết sắp về…Ba má sẽ sắm cho tôi bộ đồ mới.Tôi sẽ có một mớ tiền lì xì từ ba má và bà con thân thuộc…

Bọn trẻ con chúng tôi thì mừng rở, còn người lớn thì cứ than thở : “Mới đó mà Tết tới nữa rồi…!”. Người lớn thi tất bật gồng gánh, buôn bán quanh năm…công việc cứ bề bề ra, lo chưa xong thì Tết lại đến. Bọn con nít như chúng tôi thì lại mong Tết về…đâu biết gì mà lo…

Gần sát ngày Tết, mặc dù vẫn còn bận rộn với công việc buôn bán, má tôi cũng dành thời gian lo ngâm gạo, ngâm nếp, phơi lá chuối để gói bánh ích, bánh tét. Chưng xong bánh tét, bánh ít đem treo trên giàn, thì đến lo đánh bột làm bánh bông lan…

Lúc còn nhỏ, tôi thường quanh quẩn bên má để giúp má hoặc để má sai vặt. Là đứa con trai lớn trong nhà, tôi thấy má làm một mình cực quá nên không nở bỏ đi bắn cu li với bạn bè mà ở nhà phụ một tay với má. Nồi bánh Tét xôi ùn ục…má kêu tôi thêm củi, tôi đút từng thanh củi vào lò. Má mở nấp nồi thăm chừng. Khói bốc lên nhiều, má nghiêng đầu tránh hơi nước nóng, lấy cây đủa dài xốc trở. Mùi lá chuối xông lên nghe thơm phức. Gần ngày Tết hơn nữa, má cân bột, đếm trứng để làm bánh bông lan, thì tôi phụ đánh trứng, đánh bột. Công việc phụ trợ của tôi được má thưởng cho ăn mấy cái bánh thử nóng hổi hoặc mấy cái bánh bông lan quá lửa, hơi đen đen nhưng thơm phức mùi vanila.

Ba bớt đi giao hàng vì cận Tết, ngồi tính sổ sách cuối năm. Hai bên trước cửa nhà, ba đặt hai chậu bông cúc nở vàng.Trên bàn thờ thì ba chưng bông vạn thọ. Cả nhà tôi thơm mùi bánh, mùi hoa, mùi nhang.

Người lớn ai ai cũng xem ra bề bộn lo lắng, còn bọn trẻ chúng tôi thì thấp thõm đợi ngày 30 Tết được tắm rửa sớm hơn mọi ngày và được ba má để sẳn bộ đồ mới cho ngày mai mặc đi chơi.

Đêm 30 má lo sẳn một dĩa trái cây “Cầu, Dừa, Đủ, xoài(Xài)”và một bình cấm bông vạn thọ. Đúng 12 giờ khuya, phía bên nhà thờ Tin Lành giựt chuông tinh toong. Ngôi chùa Phật phía bên sông đánh trống, bổ chuông in ỏi. Má lâm râm khấn vái trước bàn thờ đặt trước sân. Ba đốt dây pháo đỏ treo trên nhánh cây trước nhà, châm ngòi nổ đì đùng…Cả xóm chợ đâu đâu cũng đì đùn tiếng pháo.Tụi con nít chạy hết nhà nầy qua nhà khác lượm pháo lép hoặc chưa nổ kip bỏ vào túi áo…Có đứa vô ý bỏ vô cái pháo còn đang cháy ngòi, pháo nổ làm cháy áo, phỏng bụng.

Mùi Tết, mùi nhớ quê hương. Mấy chục năm rồi xa xứ. Khi hết tháng 1 mùa Đông còn đang lạnh, máy sưởi trong nhà chạy suốt đêm ngày. Căn nhà trống hoe.Vợ chồng còn tất bậc với công việc ở hảng xưởng. Con cái thì đi học….Đến cận ngày Tết Ta thì mới chạy ra chợ mua bánh chưng bánh tét và vài chậu bông đem về chưng bàn thờ. Chuẩn bị nấu vài món ăn truyền thống như thịt kho, dưa giá…Mùi vị ngày Tết không còn …chỉ còn là nỗi hoài nhớ…Khi qua đêm trừ tịch, hai vợ chồng ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Đêm 30 đi qua…Ngày mai lại tiếp tục đi làm, con cái đi học. Bàn thờ cúng cơm ông bà chỉ là cái bằng chứng để lại với khói nhang thơm nhẹ…Mấy đứa nhỏ còn cằn nhằn “Ba má đốt nhang nên mở cửa… Tụi nhỏ sợ khói nhang làm ngộp thở và hôi nhà…Kêu tụi nó khấn vái trước bà thờ ông bà thì tụi nó chỉ đốt một cây nhang, chấp tay xá xá cho qua việc. Có khi chúng đi làm, đi học thì chỉ hai vợ chồng dọn bàn cúng lạy…mà cũng chỉ nán lại trước bàn thờ vài phút rồi đi lo công việc khác.

Người lớn thì cố giữ lại truyền thống Tết được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu.Còn tụi nhỏ thì…khó quá! Tôi đâm nghĩ “Khi đám già cuốn gói về đất hết thì chắc tụi nó cũng quên cái vụ Tết nhứt nầy “Thật ra thì tụi nhỏ đâu có cái mùi Tết như mình có hồi từ thuở nhỏ đế mà nhớ…!

HỐI HẢ CUỐI ĐỜI

Trong đời người có biết bao nhiêu lần hối hả. Có những hối hả lo toan, nếu mình chưa hoàn tất với cái mức quy định của công việc hoặc thời gian thì mình có thể làm tiếp sau đó.Tuy nhiên có một sự hối hả mà mình phải hoàn tất, nếu không thì mình sẽ không có cơ hội để hoàn tất. Đó là sự hối hả của những ngày gần cuối cuộc đời. Quỹ thời gian của cuộc sống không còn bao nhiêu.Sự bất chợt rủi ro của tuổi già có khi vô chừng, khó đoán, cho nên sự hối hả như một điều thúc đẩy người tôi cố nghĩ, cố lọc lựa những gì mình cần phải hoàn tất trong khi có thể làm được, còn chừa một khoảng rủi ro nào đó mà thần chết giáng xuống mình bất thình lình.Cái quan trọng mà tôi phải làm trước đó là món nợ văn chương vướng lụy mấy chục năm qua, từ lúc biết làm thơ, viết nhật ký của tuổi 15, cho đến nay tóc đã nghiêng màu trắng. Cuộc bể dâu đã làm cuộc đời tôi nổi trôi thăng trầm. Cùng với thăng trầm đó là những dòng văn, những dòng thơ được trải ra trên giấy năm xưa và trên dòng Net ngày nay.

Tôi muốn nó ở lại đời khi tôi ra đi.Tôi muốn nó ở lại với thân quyến, bạn bè và theo linh hồn tôi về tận miền miên viển nào đó.

Tôi viết vì tôi, vì người thân và bạn bè.Tôi không ham muốn làm nhà văn, nhà thơ.

Tôi là một người muốn trải lòng ra để giải tỏa nỗi lòng cho chính tôi và chia sẻ với những người thương mến tôi bằng chữ nghĩa.Còn lại những thứ khác, nếu tôi chưa làm hết thì có người khác làm thế cho tôi.

Tôi muốn chính tôi phải hoàn tất những dòng chữ mà tôi đã viết, thành từng tập.

Tôi muốn được nhìn thấy nó đã thành hình.

Chỉ duy nhất có điều nầy làm tôi hối hả để hoàn tất trước lúc chia tay với đời sống nầy.

TÌNH NET

Ngày xửa ngày xưa, lúc còn mài đủn quần trong lớp học. Lúc đó khi yêu nhau người ta thường viết thư trao đổi tình yêu qua trang giấy học trò, kha khá hơn nữa là những mảnh giấy màu mõng. Thông thường rất kín đáo trao cho nhau bằng tay chứ ít khi gởi bằng thư từ, vì sợ bị lộ Khi ba má bắt được thư thì có mà bị tẩm quất hay la rầy một trận: “Còn nhỏ mà không lo học hành…ở đó mà yêu…Từ nay phải chấm dứt nghe con….phải lo học hành trước đã…” nghĩa là cha mẹ có quyền cấm con cái đi vào đường yêu đương và dỉ nhiên mấy tờ giấy viết sẽ bị xé nát và cho vào sọt rác. Tình yêu trai gái thuở đó cũng thường chỉ quanh quẩn trong xóm làng, quẩn quanh nơi phố chợ, ít khi xa ngàn dậm…? Với đà phát triển nhanh của khoa học qua các bàn máy vi tính và qua hệ thống Net, sư liên kết của con người vượt xa khoảng cách, vượt biển trời bao la để tìm đến nhau qua E-mail, tin nhắn. Các bậc cha mẹ ngày nay không còn kiểm soát con cái theo cái kiểu ngày xưa nữa, mà có kiểm soát cũng không được, đành phải chấp nhận một cách miển cưởng, bó tay, đành chịu…!

Các trang nối kết như hệ thống của các nhóm trên yahoo.com các trang mạng liên kết như facebook…đã làm mọi người trên khắp thế giới gần nhau hơn, thư từ, tin nhắn, hình ảnh chỉ chuyển trong tích tắt….Từ đó hình thành những mối tình ảo, vượt không gian mà yêu nhau. Sự trao đổi đôi lúc màu mè công chúng (public) sau đó chuyển qua nơi kín đáo hơn bằng Chát (Messenger). Có nhiều mối tình Net đến với nhau dịu dàng trên Net và rồi sau đó hẹn hò gặp mặt nhau, đôi khi hợp ý thì tiến tới hôn nhân thật sự, cũng có những quái quâm vở khóc vở cười khi đối diện với sự thật phủ phàng, hình em, anh trên Net thì quá đẹp…hoặc trí tưởng tượng về người yêu quá toàn vẹn, khi gặp nhau bị vở mộng…Chẳng hạng nàng hoặc chàng đi đứng cà thọt, ăn nói thì ấp a ấp úng ngọng nghệu…Có những mối tình chỉ cốt bẹo kéo nhau để cho qua buổi trng vắng của những ông bà ở tuổi về hưu, có nhiều thời giờ ngồi trước máy vi tính chát để đốt thời gian. Cũng có những cảnh ông bà đang sống ung dung với nhau mà lại ngoại tình trên Net. Ông một cái máy, bà một cái máy mặc tình mà chát yêu, chát quái. Mỗi người tìm thời gian thích hợp mà chát để khỏi bị lụy phiền, để khỏi bị khám phá…!Tân tiến hơn, mỗi người có một cái máy điện thoại thông minh…lúc nầy mặc tình mà liên kết, ở mọi nơi, ở mọi lúc, tha hồ ông chát, bà chát, con chát, rể chát, dâu chát…mọi người đều có cơ hôi ẩn náo riêng tư mà liên kết với nhau.

Tình yêu trên Net lại hình thành nhiều tình huống khác nhau và từ đó nở rộ ra các nhà thơ, nhà văn bất đắc dỉ với những bài thơ, bài văn gạ trao tình yêu vô cùng lãng mạng, đôi khi vô cùng Sến hằng ngày dán lên các trang mạng. Xin mở ngoặt phân ra các bậc đàn anh, các bạn văn, thi sĩ thực thụ dán lên nhiều bài viết rất giá trị để trao đổi với nhau. Nhờ đó tôi hân hạnh gặp được nhiềc bậc đàn anh, đàn chị v à bạn bè mà tôi rất quý mến. Cũng từ trên Net, có nhiền vụ lừa đão tình yêu….phờ phỉnh tình yêu xảy ra…tình ảo mà….có ai kiểm tra được đâu?! Mà thực ra có chết thằng Tây nào đâu với mấy dấu hiệu trái tim gởi cho nhau kèm qua các lời nói âu yếm…sống động hơn là những con vật nhả ra hằng hà sa số trái tim yêu qua ảnh gif. Có mất đồng nào khi gởi những bó hoa hoặc quà cáp trên Net. Ôi thời đại tân tiến! Ôi thời đại tình Net, tình Ảo… Thôi thì cứ phất phơ vào Net để đốt thời gian nhàn hạ. Mua vui cũng được một vài trống canh!Phải không các bạn?


MỘT MÌNH

Từ ngày bà xã tui xách gói đi ngủ riêng tới giờ …tôi cảm thấy mình thoải mái hơn. Chẵng là vì, khi lớn tuổi lúc trở trời trở gió mình mẩy ê ẫm, xương cốt hết đau khớp nầy, chạy qua khớp khác. Đêm ngủ chung giường với bà xã nhiều khi lấy tay đấm chồ nầy, bóp chổ khác trên cơ thể mình, hoặc xoay trở lặn lộn cho đở mõi…Bà xã tức mình càu nhàu “Cái ông nầy làm gì mà rục rịch sáng đêm làm sao người ta ngủ được!”.Tránh lời rên rỉ của bà xã…tôi cố gắng trân mình chịu đau hoặc trở mình nhè nhẹ. Nhưng làm sao khỏi nhúc nhích đôi chút được…!Mặc dù tôi đã mua chiếc nệm theo quảng cáo: Ông nhúc nhich–bà không bị nhúc nhích. Bà xã của tôi vẫn phàn nàn vì sự lăn trở của tôi.Tôi hơi quạu bởi vì mình cố gắng chịu đựng cái thân thể bất tuân như ý rồi mà còn bị cằn nhằn hoài. Tôi nói: “Tại bà khó ngủ chứ đâu phải tại tôi…hồi nẫm đôi khi ngủ say sưa bà còn ngáy khò kho.Tui có nói gì bà đâu? Vợ tôi nói: Hồi đó khác, bi giờ nầy khác…!Tôi chịu lép vế nằm làm thinh.

Ban đêm vì không ngủ được tôi cứ ngồi bật dậy đi tiểu…cái gì quá kỳ cục, cứ đi tiểu vừa xong vào giường nằm một chút lại muốn mắc tiểu nữa….Bà xã cầu nhàu “Cứ leo lên, bước xuống giường và dội cầu hoài làm sao ai mà ngủ cho được…!Đi khám bác sĩ đi.Coi chừng bị ung thư tuyến tiền liệt đó.(Chuyện nầy khỏi lo vì tôi đi khám rồi…tại uống nước nhiều-khi ngủ hỏng được thường là như vậy…).

Chưa kể nhiều khi xem một cái phim hay, mình muốn coi cho hết, bã rên rỉ: Làm ơn tắt cái TV cho người ta ngủ...ngày mai còn phải đi làm.Tôi cụt hứng tắt cái TV.

Còn nữa, tôi hay hứng tình với nàng thơ. Khi một ý thơ nào đó hay hay hiện ra trong đầu, tôi bậc cái máy vi tính lên và ngồi hằng giờ để làm thơ hoặc viết truyện… luôn thể đọc mail của bạn bè gởi cho mình và trả lời, đôi lúc đọc nhiều bài thơ hoặc bài viết hay mình góp ý. Vợ tôi lại than thở tiếp vì mấy tiếng cộc cạch của bàn phím khi tôi gỏ chữ.

Nhiều lúc bà xã tôi lại tò mò xem tôi làm cái gì trên máy vi tính mà ngày nào cũng mở máy và ngồi ngâm rất lâu. Vợ tôi nghe câu chuyện mấy lão niên cứ lên mạng chát chiếc với mấy em “Cỏ Non” ở Việt Nam…lâu ngày đâm mê mệt và hẹn hò kiếm chuyện về bên đó mà du dương.

Có một ông sau khi đi về Việt Nam nhiều chuyến, khi trở lại Mỹ tuyên bố ly dị bà vợ tắm mẵm ở bên nầy. Dĩ nhiên của cải do vợ chồng gầy dựng bấy lâu bị chia tứ tán. Con cái lớn khuyên cha, nhưng vì quá mê “Cỏ Non” ở Việt Nam rồi nên nhất quyết không nghe ai hết. Chàng già về xứ Việt làm đám cưới linh đình và bảo lảnh em sang Mỹ. Bà vợ mất một căn chung cư… để ông chồng đem con vợ nhí sang hú hí. Buồn quá bà đâm ra điên điên bởi lẻ ông chồng của bà rất hiền lành, sống mấy chục năm ông luôn là người chồng gương mẫu.Hai vợ chồng mở tiệm Nail &Tóc, bà bận rộn với việc làm, ông tận tụy giúp bà từ việc lớn đến việc nhỏ.Hai người chí thú lo làm ăn nên mua được một căn nhà và sau đó là một dãy chung cư gồm 10 căn hộ.Suốt ngày ông cứ quanh quẩn ở tiệm giúp bà điều hành công việc.Tối đến ông làm sổ sách. Bà rất thương yêu chồng và tin chồng hết mực…nhưng ở đời ai đâu có ngờ! Người lù đù “Vát lu mà chạy” ít nói như ông chồng bà lại giở chứng hồi nào mà bà không biết được.Chừng đổ bể ra sau mấy chuyến về thăm bà mẹ già của ỗng còn ở Việt Nam…Ông đòi ly dị và chia của.Bà giử căn nhà và cái tiệm, còn ông thì giử cái chung cư.Bà vô cùng đau khổ vì sự bất ngờ nầy nên đâm ra như người mất trí. Bà tức khí vì mất ông chồng thương yêu rất mực của bà“ Đồ con “quỉ cái cướp chồng bà còn nhởn nhơ hưởng phần mồ hôi nước mắt của bà…trước mắt bà!”.

Tôi không đồng tình với mấy việc như vây.Vợ chồng tay dắt, tay níu con thơ với hai bàn tay trắng sang đây.Vợ chồng xây dựng gia đình từ con số không.Tính từ thời gian bước đầu đến khi cơ ngơi khá ổn định, con cái học hành đỗ đạt và có việc làm, đó là công lao lặng lôi thân cò của vợ chồng tôi trên đất mới nầy.Với tôi…tôi rất trân quý những ân tình của vợ tôi đã khổ cực từ lúc đời tôi đầy gian nan khi còn trong nước và đã góp tay khó nhọc cùng tôi từng năm tháng xây dựng tổ ấm nơi xứ người nầy. Ai mà lại vô cảm-vô tâm phụ rảy ân tình nầy.Tuy nhiên “Ớt nào là ớt không cay- vợ nào là vợ chẳng hay ghen chồng” Với sự nghi ngờ và có thể cũng để đề phòng trước vì thấy tôi sao cứ tối ngày lên mạng hoài nhiều lần vợ tôi nhìn vào khung màn ảnh máy vi tính phía sau lưng tôi để dò xét.Tôi nghĩ chắc mẫm là bà xã tôi nghi ngờ tôi chát chiếc với ai đó, có bao giờ bà xã tôi tò mò để xem văn vẽ của tôi đâu!.Chưa bao giờ thơ văn của tôi lọt vào đôi mắt của nàng…! Mặc tôi mơ mơ, màng màng những chuyện năm xửa năm xưa với nhiều hồi tưởng qua những dòng thơ tình sướt mướt hay tưởng tượng một câu chuyện tình lâm ly nào đó để kết thành văn vẻ đậm tình éo le–lâm ly hoặc đổ vỡ.Tôi đoan chắc vợ tôi chẳng thèm ngó ngàng đến thơ văn của tôi cho dù có đem quyển thơ hay quyển văn của tôi đặt trước mặt.Nhưng từ ngày bà xã tôi giao lưu với bạn bè trong trang Web Trung Học Chợ Lách…tôi có bài vỡ tham gia.Bạn bè của vợ tôi đọc bài của tôi không biết khen thiệt hay chỉ động viên…bà xã cũng dừng mắt đọc thơ văn của tôi cho biết sự tình….Cám ơn trang Web vì tôi có một đọc giã bất đắc dĩ:VỢ TÔI!…!

Người ta thường nói: Sự thành công của người chồng luôn luôn có bóng dáng của người vợ hổ trợ. Tôi nói trại ra: “Sự thành công của các người cầm viết (Văn-Thơ-nhạc-kịch ) phía sau luôn luôn có bóng dáng của các người vợ thông cảm và chịu đựng”. Trong một cuộc phỏng vấn, vợ của nhạc sĩ Anh Bằng có nói: Ổng đi đâu thì đi và làm cái gì thì làm…khi về nhà ổng là của tôi là được rồi…”.Riêng bà xã tôi thì nói: Ông làm cái gì thì làm…nếu lựng bựng gì đó với ai… hể tôi biết được là tôi cho ông đi tàu suốt.Hồi trẻ mình rơi có người hứng lấy còn bây giờ già khú đế rồi ai mà lượm…!Lời phán hơi nặng ký như vậy…có ngán không quý bạn…? Tôi ngán lắm đó…cho nên néu lỡ ăn vụn thì chùi miệng liền hà!

Từ lâu tôi có thói quen …khi đang say sưa với những dòng thơ hoặc lời văn đang hiện ra trong đầu rồi gỏ những dòng chữ hiện ra trên màn ảnh mà bị ai đó dòm ngó là tôi mất hứng và bị khựng lại…Một hôm không dằn được cơn bực bội .Tôi nói với vợ tôi: “Từ nay tôi muốn bà để tôi yên khi ngồi vào bàn máy vi tính làm việc nghe...! Bà xã giận bỏ đi một nước và nói: Ừ tôi đi ngủ riêng…để ông thanh thơi muốn làm gì thì làm…! Và vợ tôi thu dọn ra phòng riêng từ hôm đó.

Chúng tôi ngủ cách ly nhưng sinh hoạt gia đình cũng đều hòa. Mấy đứa con biết lý do má tụi nó ra riêng không phải vì chúng tôi giận hờn nhau mà vì lý do tôi lớn tuổi khó ngủ cứ cựa quậy lung tung làm má tụi nó ngủ hỏng được…!

Mấy ngày đầu ngủ một mình, tôi thấy thiếu thiếu hơi hướm ba xã…vì mấy chục năm ngủ chung giường với nhau rồi chớ bộ …!“Thia thia quen chậu-Vợ chồng quen hơi” mà. Nhiều đêm giật mình mở mắt nhìn bên cạnh, thiếu bà xã cũng thấy lạnh lẻo cõi lòng “Ghe lui còn để dấu dằm-Người thương đi vắng dấu nằm còn đây”.

Mấy lúc sau nầy bà xã tôi hay đi chùa nghe các thầy thuyết pháp. Hồi trước ăn chay một tháng 4 ngày…dần dà ăn gần suốt tháng. Bà xã tôi khoe:Từ ngày ăn chay đến giờ thấy trong người được khoẻ hơn: đường, mỡ, trong máu giãm, ấp xuất huyết giãm.Thế là vợ tôi gần như trường chay. Phòng của vợ tôi gần như là tịnh thất…

Vợ tôi ăn chay, đọc kinh, đi chùa và ngủ chay. Dỉ nhiên tôi cũng đành ngủ chay dài dài…!Tôi tập ăn chay để giãm nhiệt cơ thể cũng chưa đến nỗi của tôi…hơi ngặt chứ bộ…!Nhưng lâu dần cũng quen!

Một mình trong căn phòng rộng, trên chiếc giường King-size(Giường lớn dành cho vợ chồng ngủ chung) tôi thoải mái tự tung tự tác: Đấm lưng, đấm bóp chân tay thả ga, đôi lúc ngồi lên nhấm mắt tọa thiền hoặc uốn éo cho phẻ gân cốt ...không sợ ai rầy rà. Nhiều phim hay cứ thoải mái xem cho tới hết…Bật máy vi tính cộc cạch thỏa thích để làm thơ tình, viết truyện yêu đương… Khi ngồi vào bàn cầu ...đọc báo, đọc thơ cũng không ai hối thúc.(Cái thú đọc mọi văn tự mà tôi vớ được khi vào nhà vệ sinh là một thói quen của tôi khó mà bỏ được). Kể ra Một Mình đâu phải cô đơn...!

Huỳnh Tâm Hoài

Cali đầu năm dương lịch 2014