Saturday, September 6, 2014

TẠP GHI



MỘT CHÚT TẢN MẠN VỀ
Nhạc Sĩ TRÚC PHƯƠNG
          Đôi dòng tiểu sử
Nhạc Sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sinh năm 1939 tại Xã Mỹ Hoà, Quận Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) miền Nam Việt Nam. Cha là một nhà giáo rất nghiêm khắc với con cái, trái lại ông rất lãng mạn đa tình và yêu thích văn nghệ. Năm 15 tuổi ông tự học âm nhạc và sáng tác nhạc từ đó. Xã Mỹ Hoà là một vùng đất giồng có nhiều lũy tre, xen kẽ với những cây sầu đâu chạy dọc theo các giồng cát. Vào những trưa hè là chất liệu được ghi vào nét  nhạc của ông” Nắng mai non, nắng ngã tàu dừa-sáo diều lưng lưng gió- Giấc ngủ bờ tre trưa-Lời tình tiếng võng đu đưa”(Chín dòng sông hò hẹn). Rời miền quê lên Sài Gòn, ông sống với những ngày nổi trôi túng thiếu. Trong thời gian nầy tình yêu của chàng nhạc sĩ nghèo nẩy nở…Yêu, được yêu và tình yêu đổ vỡ đã hình thành những sáng về tình yêu cả tình đời của ông trong giai đoạn nầy rất sâu lắng. Nhạc của ông như gắn liền với hồn tôi qua nhiều khúc nôi tâm tình và cuộc sống. Hình như vô hình trung tâm tình của ông là của tôi vậy.


1-Tình yêu của tôi và dòng nhạc của Trúc Phương:

           Hồi đó, rất lâu - vào khoảng cuối thập niên 50. Lúc đó Nhạc Sĩ Trúc Phương chưa nổi tiếng. Anh Phương ôm đàn thùng cùng anh Văn Xe đàn cho Văn Nghệ Thông Tin Tỉnh Trà Vinh, với giọng ca chính là Văn Xe và cô Ngọc Ánh.
          Sau khi đậu Tiểu Học, tôi rời Quận Trà Cú, lên ở trọ nhà một người chú thứ năm. Tôi ghi danh lớp Đệ Thất Trường Trung Học Long Đức. Sở dĩ tôi chọn trường này vì trường có chương trình dạy thay vì 4 năm thi Trung Học thì có khi 2 năm hoặc 3 năm được ghi danh thi. Có vài anh chị đi thi và đã đậu Trung Học. Chủ trường là chú thím Hai Nhơn. Ngoài chú thím ra trường còn qui tụ các thầy cô rất giỏi như thầy Đức, thầy Phổ, thầy Ninh, thầy Tố... Cuối hè năm lớp Đệ Thất, tôi trở lại trường thì thấy cổng trường đóng kín im lìm. Tôi dọ hỏi thì mới biết vì trường dính líu đến chính trị nên bị đóng cửa. Chú Hai Nhơn và gia đình trốn vào mật khu. Các thầy còn lại một số bị bắt như thầy Ninh…
      Sau năm 75 tôi nghe bạn bè kể lại chú Hai Nhơn bị mờ đôi mắt vì bị hơi nóng của bom lân tinh, Bé Hai học chung lớp với tôi là con lớn của chú bị chết ở mật khu và bà Trần Thị Mè chính là thím Hai  dạo nào.
    Tôi cùng một số bạn khác đầu quân vào Trường Nguyễn Quan Anh  vì một số thầy cũ của trường Long Đức sang dạy ở đây. Cuối cùng năm 1960 tôi thi và lớp Đệ Tam Trường Trung Học bán công Trần Trung Tiên khóa niên học 60-61.
   Vào thời gian còn nhỏ tôi mê cổ nhạc hơn tân nhạc. Tôi đi xem văn nghệ chỉ chú ý đến mấy cô đào, anh kép cải lương. Nhưng khi vào học trường Trần Trung Tiên, tôi đã thay đổi. Ở đây tôi đã yêu và được yêu. Tôi yêu D, một cô bé lớp đệ Ngũ và bản Đò Chiều của Trúc Phương là cái duyên thầm kín mà cô bé thố lộ tình yêu với tôi..Một buổi chiều cô bé sang nhà chú thím tôi xin mồi lửa nấu cơm chiều. Tôi cũng đang giúp thím tôi đơm thêm củi, lúc nầy thím bận gì đó bên nhà trong. Tôi gặp cô bé. Cô bé lí nhí nói với tôi xin mồi lửa. Mỗi chiều tan học về tôi thường ngồi trên võng đu đưa nhìn cô bé đi học về với đôi mắt trìu mến…có lẽ vì vậy mà hôm nay gặp mặt, cô bé lúng túng và tôi thì hồi hộp. Cô bé đưa nhúm lá khô mồi lửa…tôi đứng kế bên nhìn em…lửa mồi lâu chưa cháy…Tôi nói gì đó…Hình như: “ D ơi! tôi yêu em…em có yêu tôi không?” Nàng vụt bỏ chạy về nhà. Nhúm lá khô bỏ lại cháy lem dưới đất. Tôi đứng trơ với trái tim đập như vỡ lòng ngực vội dụi đớm lửa bằng chân dép. Sau mấy ngày tôi không dám ngồi nơi chiếc võng để nhìn em đi học ngang về. Rất lâu cả tuần lễ sau đó, cô bé lại sang xin mồi lửa. Cơ may em lại chỉ gặp một mình tôi…tôi hỏi: “D ơi! trả lời tôi đi..! D có yêu tôi không?. Em đỏ mặt đứng nhìn vào nhúm lửa đang mồi cháy và nói: “Kỳ quá…”và cầm nhúm lửa chạy về nhà. Sau đó chúng tôi có những đêm khuya hò hẹn ở phía sau nhà lúc mọi người đều ngủ. Em chưa trả lời yêu tôi, nhưng những nụ hôn nồng cháy là tiếng nói nhiệm mầu nhất mà nàng trao cho tôi.
     Phòng học của tôi nhìn qua nhà bếp nhà em. Mỗi ngày em ra bếp nấu cơm. Tôi ngồi nhìn em qua khung cửa sổ. D hát bản Đò Chiều, đến đoạn "Trông anh trai phong sương em thấy mà thương " thì nhìn sang tôi với nụ cười tình tứ. Ôi! rung cảm làm sao ấy...Chúng tôi yêu nhau đúng một năm, vì sự non nớt di hờn của tuổi trẻ đã làm tình yêu chúng tôi bị vỡ tan. Tôi đau buồn khôn tả. Buổi văn nghệ năm đó tôi hát bản "Chuyện Chúng Mình" của Trúc Phương. Tôi muốn hát cho riêng D, người yêu đầu đời của tôi "Đêm nay em ngồi lặng yên nghe tôi kể chuyện xưa bao năm lắng trong tim, tình mình từ thủa tuổi đôi mươi, mà ta chưa biết nên để lỡ duyên đầu" . Đã lỡ duyên đầu làm tôi buồn ngơ ngẩn và quyết định rời Trà Vinh lên Sài Gòn học để cố quên mối tình chớm nở đã vội tan. Cũng kể từ đó tôi thường hát nhạc của Trúc Phương qua mấy bản như "Mưa Nửa Đêm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Buồn Trong Kỷ niệm, Hai Lối Mộng...nhất là bản "Con Đường Mang Tên Em". Mỗi lần hát bản nầy tôi nhớ lại con đường hàng me ở Trà Vinh, mỗi ngày hai đứa cùng đi đến trường. Ánh mắt, nụ cười trao nhau trong suốt con đường với cơn gió, làm lá me quấn quít tà áo trắng, rơi dính trên mái tóc ngắn đuôi gà của em.
      Đi học ở Sài Gòn, nhiều đêm lang thang ngoài phố một mình "Ai cho tôi tình yêu để làm duyên nụ cười. Tôi xin dâng tình tôi trọn đời" hoặc "Nửa đêm ngi phố vắng có người mãi đi tìm, một người không hẹn đến mà tiếng bước buồn thêm. Tiếc thay hoài công thôi, phố đã vắng thưa người. Biết rằng chẳng duyên thừa để người không gặp nữa,về nối giấc mơ xưa". Nhưng giấc mơ xưa đã trở lại khi tôi gặp lại D. trong một buổi tối Sài Gòn mưa bay lất phất...Tôi chạy chiếc Velosolex chầm chậm ngang qua vũ trường Paramount, thật hết sức vô tình tôi đưa mắt nhìn vào và thấy D vừa bước từ thang lầu đi xuống. Tôi gọi D..D ..Ơi! D chạy vội ra và ôm chầm lấy vai tôi, lúc ấy cách không xa có một người thanh niên mở cửa xe, chờ đón D về. Tôi nhìn về hướng ấy, D hiểu ý, nói: "thây kệ"......Rồi ngồi lên sau yên xe tôi nói: "Anh chở D về dùm". Tôi đưa D về trong cơn mưa phùn cuối năm, bỗng thấy nhói trong lòng, đau thay vì thấy hạnh phúc khi gặp lại người yêu sau bao năm xa cách. Khi biết em làm trong vũ trường, lòng tôi chùng xuống xót đau. Tôi từ chối vào nhà em, với lý do phải trở về nhà nghỉ ngơi để trở lại quân trường sớm. Về nhà tôi không tài nào ngủ được "Xin giã biệt bạn lòng ơi, trao trả môi người cười, vì hai lối mộng hai hướng trông, mình thương nhau chưa trót thì chớ mang nỗi buồn cho đù chưa lần nói". Cái Giáo Lý Khổng Tử đã ăn sâu trong đầu tôi trong mấy năm học Trung Học "Xướng ca vô loại" đã làm hỏng tình yêu của tôi thật sự từ đó. Tội nghiệp cho em và tội nghiệp cho tôi !..
   
Khói lửa chiến tranh sau Tết Mậu Thân 68 đã đẩy tôi suốt 2 năm không ngừng nghỉ ngoài mặt trận với cái chết trong gang tấc."Kẻ ở miền xa, trời quen đất lạ nhiều đông lắm hạ, nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà…". Cuộc đời binh nghiệp, cận kề với cái chết làm tôi lang bạt tình đời, xem cuộc tình như những buổi chơi rong, gặp đó, ân ái đó - rồi thôi..rồi quên...Không có cuộc tình nào trọn vẹn. " Mượn em cánh én đeo hồn. Trong anh thật sự đã mòn dấu xuân". Những ngày nghỉ phép là những ngày rượu uống bạt mạng và thường khi: "Đưa ta đi về nguyên thủy loài người, mùa yêu khi muốn ngỏ, vụng về ngôn ngữ tình nên làm bằng dấu đôi tay". Sau hơn hai năm ngoài chiến trường, tôi có dịp trở về Sài Gòn, ghé Thị Nghè nơi căn nhà gia đình D ở. Tôi gõ cửa, đứa em gái D mừng rỡ mời tôi vào nhà và nói anh đi đâu mất biệt?..em ngập ngừng."Chị D lấy chồng cách đây 2 tháng"..Tôi nghe nhói trong tim. Và sau đó không biết tôi đã nói gì với em của D.. Tôi ra về....Đó là năm...cho tới nay hơn 36 năm dài trôi qua mà hình bóng cũ vẫn còn trong tôi mỗi khi có dịp hát nhạc của Trúc Phương."Trở lại chuyện 2 chúng mình, khi em với anh vừa biết đam mê, tình yêu tràn trề........"

2- CUỘC HỘI NGỘ VỚI TRÚC PHƯƠNG

Sau thời gian ở trại "cải tạo"về, tôi và vợ con tôi sống với gia đình ba má tôi ở Trà Cú. Sau một năm ăn không ngồi rồi, tôi xoắn tay theo làm phụ xế xe đò cho đứa em trai. Trong thời gian nầy tôi gặp và quen với vài người bạn văn nghệ cũ ở Trà Vinh. Hôm đó anh bạn đang nói chuyn với tôi ở một góc của bến xe, anh chỉ tay về phía một người cao cao mang kín cận đang đi lại hướng hai chúng tôi, anh bạn hỏi tôi "Anh có biết Trúc Phương không?”. Tôi hỏi có phải Nhạc Sĩ T.P không? vừa lúc đó T.P đang đứng trước mặt tôi. Anh bạn giới thiệu: Đây là anh Phương và đây là anh T.H. Anh bắt tay tôi một cách ỡm ờ lấy lệ và nói năng rât thận trọng. Nhưng nhiều ngày sau đó tình thân giữa tôi và anh tốt hơn nhiều. Có lần anh theo tôi về nhà và ở lại đôi ba ngày. Chúng tôi bắt được nhịp thở văn nghệ với nhau. Tôi nghĩ anh cẩn thận với mọi người vì lúc đó tình hình rất khó khăn. Tôi biết được anh nhiều hơn. Anh tâm sự "Toa biết không, moa rời Sài Gòn về sống với má moa ở Cầu Ngang, ăn không ngồi rồi với nhiều nỗi lo vì không hộ khẩu. Má moa lại già, chỉ sống nhờ mấy đứa cháu, moa về ở gây thêm gánh nặng....Mà đi đâu bây giờ?. Vợ con đã cách biệt trước 75 , bây giờ thì bặt vô âm tín. Anh sống nhờ sự đùm bọc của những anh em bạn bè yêu mến anh. Nhưng vào thời buổi gạo châu củi quế, đâu có ai đủ sức gánh gồng thêm ...nên anh rày đây mai đó...! Có lần anh nói: "Toa biết không, moa bây giờ viết nhạc theo đơn đặt hàng để kiếm cơm". Tôi nhìn anh ngờ vực. Anh đưa cho tôi xem bản nhạc chép tay, bản nhạc viết cho ban quản lý bến xe Trà Vinh. Anh nói: “chưa chắc moa đưa cho họ” và vẻ mặt anh buồn buồn…! Sau nầy qua sự giới thiệu của một anh Họa Sĩ trẻ, ban Văn hóa thông tin Huyện Trà Cú đùm bọc anh. Chính nơi đây anh sáng tác khoảng 5, 6 bản. Có một bản mà tôi thích nhất đó là bản "Trà Cú Trong Tình Thương Mật Ngọt" viết theo âm hưởng ngũ cung :

"Nhớ thuở yêu em,
từng bước Lâm Thôn giai điệu ngày đầu,
dzìa lâu đậm mầu,
vì ai anh múa qua cầu

3- LÃNG MẠN, ĐA TÌNH

Trong một dịp anh theo tôi về Chợ Lách  để thăm ba vợ tôi bị bịnh. Khi về đến nơi thì người nhà cho biết đã đưa ông cụ ra Bệnh Viện Vĩnh Long. Chúng tôi lại xuống đò trở ra Bệnh viện ở V.L .Trên đường đi từ bến đò đến bệnh viện, chúng tôi đi song bước trò chuyện, môt lúc tôi thấy anh đi chầm chậm…và lùi dần về phía sau. Tôi vì muốn đi mau để vào thăm ông cụ nên cứ để mặc anh đi phía sau. Một hồi lâu tôi nhìn quay lại, không thấy anh đâu cả.. Nhìn kỹ lại thì thấy anh hai tay bíu vào tường và nhìn ai đó bên trong.Tôi gọi anh ơi ới. Bấy giờ anh buông tay tuột xuống và đi nhanh về phía tôi. Tôi hỏỉ anh làm gì đó?. Anh bảo: "Moa nghía hai cô bé trèo cây mận”.
        Lúc tôi vào phòng thăm ba vợ tôi thì anh tha thẩn ngoài hành lang B.V. Khi tôi trở ra ngoài thì chẳng thấy anh đâu. Tôi ngó nhìn một lúc thì thấy anh ngồi trên cành cây sứ với cây bút và mảnh giấy. Tôi gọi anh lại để ra bến xe trở về T.V. Tôi hỏi anh viết gì đó?. Anh bảo viết nhạc "Tà áo trắng Bệnh Viện". Tôi nghĩ anh viết chưa xong. Sau nầy vì bận rộn với cuộc sống, tôi quên hỏi anh có hn tất bản nhạc đó chưa?. Ở anh khi có bóng dáng người đẹp, với ly cà phê và điếu thuốc, anh sáng tác nhạc rất nhanh. Mới hay cái lãng mạn của anh đã khơi dậy trong anh những nốt nhạc cho những bài nhạc tình mà theo thiển ý của tôi rất đặc biệt Trúc Phương khó mà lầm lẫn với các nhạc sĩ  khác .

4- ĐÔI DÒNG CUỐI:

        Sau năm 75 một số văn, thơ, nhạc, họa sĩ thoát ra được nước ngoài nên cuộc sống dễ thở. Đa số còn kẹt lại trong nước. Có nhiều người sống vật vờ, âu lo, cạn queo, ngõ cụt hoặc bị tù tội...Rồi thời gian trôi. Có
người tháo vát hay có căn cơ còn sống tàm tạm. Còn số còn lại? Phải làm gì đây để sống? Họ chỉ có cây viết! Và họ phải lao lách viết. Rồi họ bị chụp mũ nầy, mũ nọ..!!!Ai nuôi sống họ?...Trong lúc người ta xử dụng tác phẩm của họ để làm giàu. Có lúc nào quí vị nghĩ tới họ chưa ???? Như Nhạc Sĩ Trúc Phương lúc chết đi với cái vốn còn lại là đôi dép, trong ngõ hẹp nơi Thành Phố Sài Gòn. (Đoạn thông báo về cái chết của TP do Việt Dzũng nói trong một chương trình ca nhạc của Trung Tâm ASIA).

                                         ( Sacramento mùa lạnh 2006)
      Ghi Chú : Moa, toa nói theo âm tiếng Pháp: Tôi, Anh

                                      
                                               Ngôi mộ của Trúc Phương được bạn bè thực hiện   


                                 
                             

TẢN MẠN VỀ
 Nhà Văn SƠN NAM



Trước khi vào đề tài chính tôi xin dẫn lược về nhóm Chim Việt Văn Đoàn vì nhóm có liên hệ trực tiếp với đối tượng mà tôi muốn nói tới. Nhóm Văn Đoàn Chim Việt do anh Phan Công Minh, bút hiệu là Doãn Nhân và bạn hữu Trà Vinh cùng một số các bạn trẻ khác thành lập năm 1969 tại Sài Gòn. Các bạn trong nhóm đa số là học sinh, công chức và quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: như anh Minh là Trung Úy Cảnh Sát thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, chị Mai Thị Thu Cúc, hiền thê của anh Minh làm ở Hội Hồng Thập Tự Sài Gòn, anh Nguyễn Bá Ngọc là công chức Nha Tiếp Vận Y Dược Sài Gòn, anh Huỳnh Văn Luận, anh Trần Văn Viễn, anh Thành Long là sĩ quan cấp úy trong Quân lực VNCH… Nhóm Chim Việt  mời anh Sơn Nam và anh Kiên Giang Hà Huy Hà làm cố vấn cùng các thân hữu cổ động tinh thần như Hà Chi, Việt Cầm, BS Nguyễn Anh Tài, Giáo Sư Nguyễn Tinh Tú…Nhóm đặt trụ sở tại 84 đường Ký Con Sài Gòn. Chim Việt xuất bản Tuyển Tập Dựng Mùa năm 1969 kế đến là Giai Phẩm Đất Sáng, tập truyện Khoảng Cách gồm nhiều tác giả trong nhóm, tập thơ Vừng Hồng, truyện dài Đời Vô Định của Nguyễn Bá Ngọc, tập thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ, Thái Bình Trở Lại, Mặt Trời Lên của Nhà Thơ Truy Phong, tập thơ Những Hàng Châu Ngọc của Nhà Thơ Huy Trâm…Hoa Thế Hệ là tập thơ định kỳ phổ biến nội bộ và bằng hữu ….
           Tôi là người trong nhóm Chim Việt từ ngay ngày đầu mới thành lập và tôi có nhiều dịp gặp anh Sơn Nam trong các buổi họp ra mắt sách do Chim Việt xuất bản. Cái giao tình của tôi với anh từ dạo ấy cho đến ngày anh ra đi. Anh lớn hơn tôi nhiều nhưng cung cách giao tiếp của anh rất chân tình không kiểu cách hay lộ vẻ chiếu trên như một số người thành danh trên văn đàn dạo ấy. Cho nên chúng tôi và mọi người trong nhóm rất kính nể và thương yêu anh. Đời sống của anh rất đơn giản, ăn mặc xuề xòa, đội chiếc nón vành cũ kỹ, và đôi dép mỏng dính anh đi bộ khắp các nẻo đường phố Sài Gòn, anh đi khắp các nẻo đồng bằng Nam Bộ. Anh cười rạng r, nói năng thân tình pha chút tiếu lâm với mọi người. Phong cách của anh rặt ròi người miền Nam chính thống.
            Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tây, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926 tại làng Đông Thái, Gò Quao, Tỉnh Kiên Giang (Rạch G). Cũng như bao nhiêu người yêu nước thời Thực Dân cai trị, anh tham gia phong trào Việt Minh, nóp với giáo vào chiến khu chống Pháp. Sau năm 54 anh trở về thành và đoạn tuyệt với phía bên kia. Anh sống ở Sài Gòn với nghề viết văn. Trong thời gian sống và viết anh ít khi đá động đến chánh trị, anh chuyên khảo về vùng đất phương Nam. Anh viết chuyện Hương Rừng Cà Mau, Xóm Bầu Bàng, Biển Cỏ Miền Tây, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn…

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên nầy Sông Tiền
Qua bên kia Sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với hai chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau, Rạch Giá
Cất chòi, đốt lửa giữa rừng thiêng…
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương
Chiều chiều nghe vượn hú,
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước về nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê
(Thay lời tựa trong tập Hương Rừng Cà Mau)

Hồn ở đâu đây
Hồn ơi hồn hỡi
Xa cây xa cối
Xa cội xa nhành
Đầu bãi cuối gành
Hùm tha sấu bắt
Bởi vì thắt ngặt
Manh áo chén cơm…
Ta thương ta tiếc
Lập đàn giải oan…

(Trong truyện ngắn Bắt Sấu rừng U Minh Hạ)

          Có một số người viết  gán ghép cho anh là sau năm 54 anh được đề cử về thành tiếp tục hoạt động. Có người gán cho anh là Việt Cộng sau năm 75 vì anh không bị đàn áp như những văn nghệ sĩ khác mà còn được trọng dụng vào Hội Nhà Văn Thành Phố. Đứng về một phía nào đó thì cái gán cho anh là người cộng tác với chế độ mới là không chối cãi được vì anh là hội viên của Hội Văn Học Thành Phố. Nhưng trong cái giao tình thân thiết và sự hiểu biết về anh Sơn Nam trong suốt những năm tháng trước năm 75 cũng như sau nầy sau khi ra tù “cải tạo” về, cũng như khi đã định cư ở Mỹ thì tôi cho rằng những gán ghép đó không đúng.
          ”Hùm tha sấu bắt- bởi vì thắt ngặt - manh áo chén cơm”. Anh đã bị gán ghép và hàm oan cũng vì cuộc sống. Sau năm 75 là khoảng thời gian kinh hoàng của đất nước, các văn nghệ sĩ bị bắt bớ tù đày cùng hàng triệu quân cán chính vào ngục tối, hoặc vào trại cải tạo. Anh được khoan dung bên ngoài, ấy là một ngoại lệ hiếm hoi. Có nhiều luận cứ cho anh, nhưng có hai điều. Thứ nhứt: Anh là bạn kháng chiến cũ của Võ Văn Kiệt hồi ở quân khu 9 năm xưa, lúc ấy đang ở Sài Gòn đỡ đòn cho anh. Thứ hai trong thời gian vào thành sau 54 đến nay anh chỉ viết chuyên khảo không có bài “chống phá Cách Mạng” và họ xử dụng anh như con cờ để nói rằng có hòa giải dân tộc. Tôi nghĩ cả hai cách nầy khả tín nhứt.
        Sơn Nam là một người trung thực và không bao giờ cầu lợi, nhưng chắc vì miếng cơm manh áo anh phải cam chịu  hoàn cảnh, nhưng anh vẫn giữ khí tiết kẻ sĩ không a dua theo thời cuộc. Những bài viết của anh trước kia cũng như sau nầy không bao giờ tâng bốc chế độ. Anh chỉ níu kéo cái hào quang 9 năm cũ để được” chén cơm manh áo” qua các bài viết của mình. Lúc còn trong nước khoảng năm 1980 Võ văn Kiệt cấp cho anh một căn nhà ở đường Nguyễn Công Trứ. Lúc đó con đường nầy buôn bán tràn lan vỉa hè. Trong một hôm gặp tôi ở nhà anh Phan Công Minh. Lúc nầy anh Minh cũng vừa mới ở lò “cải tạo” về, anh nói với chúng tôi: Ê hai bồ biết không? Sáu Danh (bí danh của ông Kiệt) hứa cho Qua cái nhà ở đường N.C.T, Qua giao nhà cho mấy bồ làm ăn, có lời cùng chia sống với nhau. Rồi ông Kiệt dời ra Bắc, căn nhà cũng đi luôn! Cơ Quan Nhà Đất hứa khi ông Kiệt còn và nín luôn khi ông Kiệt đi! Anh nói với chúng tôi trong dịp gặp khác: Ê hai bồ! tụi đó nín luôn không cho nhà rồi! Sau nầy khi ông Kiệt biết chuyện đó thì mọi chuyện về căn nhà ở đường N.C.T đã an bài. Để giữ lời hứa ông Kiệt can thiệp với Sài Gòn cho anh căn nhà khác. Anh nói: Tay nầy chí tình thiệt mấy bồ”.
         Tôi nhớ hồi thời nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, cụ Mai Thọ Truyền với chức vụ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa cũng đã cho anh môt căn nhà ở khu Cư Xá Vĩnh-Hội, anh chỉ cho người ta mướn để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Anh chị vẫn ở căn nhà trong ngõ hẻm đường Nguyễn văn Thoại. Sau nầy anh bán căn nhà ở Vĩnh Hội vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
         Một dịp khác anh được Hội Nhà Văn Thành Phố cử ra Bắc họp. Họ cho anh bộ đồ vest , đôi giày da, cái cặp da...Anh nói: Ê hai bồ, đi Bắc lần nầy, khi về Qua bán mấy thứ nầy mua được mấy gia gạo cho má sắp nhỏ. Nhưng khi đi họp về, toàn bộ các món trên bị lấy lại hết. Anh nói với chúng tôi: Tụi nầy đểu quá mấy bồ, Qua tưởng nó cho luôn ai ngờ đi họp về nó lấy lại ráo trọi! Tụi tôi hỏi anh về chuyến đi Bắc anh nói cũng chẳng trò trống gì. Cứ họp và phát biểu nhứt trí, nhứt trí!…., sau đó có dịp ăn uống, vì ngoài ấy đói thấy bà, họ ăn uống cho đã!!! Anh kể tiếp mấy thằng văn nghệ ngoài ấy hỏi gắt Qua: Ông làm phách  xưng hô là Ngọn núi của miền Nam nhỉ? Qua (Sơn-Nam) cười và nói với bọn nó: Ê mấy bồ lộn rồi, Sơn   Nam là ngọn Núi ở phía Nam Việt Nam (sic) ! Trong một dịp có người ngưỡng mộ anh mời anh về nhà dùng cơm. Anh bất nhẫn ngồi ăn trong căn nhà chừng 4 mét vuông anh đưc chủ nhà đãi ăn trên một manh chiếu trải giữa nhà với vài người bạn. Trên tấm phản gần bên, hai ba người đang ngồi nhìn, phía trên tấm phản vợ chủ nhà ngồi trên chiếc võng ôm đứa cháu đong đưa, cũng đang nhìn. Anh nói ngồi ăn mấy miếng thịt gà mà nuốt không vô!. Anh nghĩ họa hoằn tiếp rước như vầy mới có thịt gà! Người đông, gia cư không phát triển, cả mấy thế hệ ở chung trong căn nhà có từ thời ông bà. Anh lắc đầu: Đó! xã hội miền Bắc, xã hội chủ nghĩa đó mấy bồ!
     Năm 1988 khi rời Việt Nam theo diện con lai, trước khi đi tôi có một buổi tiệc nhỏ ở  tại nhà. Anh nói với tôi: Ê bồ! ở bên đó họ chửi Qua là Việt Cộng, bồ nói dùm Qua: Sơn Nam không bao giờ là Việt Cộng (sic). Khi định cư tại Mỹ tôi có đọc vài bài viết nói về anh, nhưng nói chung chung chưa có ai đả kích anh thậm tệ chỉ nói là anh cộng tác với chế độ mới, là người được chế độ mới trọng dụng, là Việt Cộng nằm vùng... Nhưng không đưa được bằng chứng nào cho thấy anh viết bài tâng bốc chế độ mới, chửi bới chế độ cũ miền Nam Việt Nam. Tôi cam đoan là không có. Những bài viết sau nầy anh chỉ níu kéo của một thời kháng chiến cũ như là cái dù để bài được đăng, để có lương mua gạo, để tồn tại mà lo cho gia đình. Thực sự anh có làm việc cho Hội Nhà Văn cũng vì miếng cơm manh áo - Ai nuôi anh bây giờ giữa một xã hội điêu đứng cùng cực vì cơm áo. Với cái thân ốm yếu làm sao gánh vác gia đình với ba đứa con còn nhỏ, chị Nam vợ anh làm cô giáo với số lương còm cõi làm sao mà sống! Anh chỉ mong cái ngòi viết của mình còn mài trên giấy để tìm sự sống còn. Phần tôi vì hiểu rõ hoàn cảnh của anh nên nhín chút ít tiền lương, lâu lâu tiếp hơi cho anh. Tôi muốn viết bài cải chính cho anh, nhưng có hai lẽ tôi không làm: một là khi nói lên sự thật có nhiều điều bất lợi cho anh vì anh còn trong nước. Hai là tôi rất ngại tranh luận, đôi khi người ta còn chụp mình cái mũ to tướng là thân Cộng, hoặc giả Việt Cộng nằm vùng. Tôi không lạ gì có một số anh em mình ở đây. Nếu ai không đồng quan điểm với mình thì gán cho người ta bằng muôn thứ mà họ có thể chụp lên đầu người ấy hoặc chi rủa thậm tệ người ta như bọn hàng tôm cá!  Ở ngoài nầy có ai đoái hoài đến rất nhiều phần đời giống như anh còn kẹt lại không?  Như một Nhạc Sĩ Trúc Phương tài hoa đã chết trong cảnh túng nghèo, tài sản còn lại là manh áo tơi trên mình và đôi dép mỏng dưới đất! Ôi còn nhiều cảnh nữa… Ôi! bao nhiêu thống khổ cho những người còn ở lại !!!??? Có ai thương cho họ không ? Họ phải tự cứu đời họ chứ!. Có thể nói họ không có khí tiết kẻ sĩ!? Thưa quí ngài. Đâu có đòi hỏi mọi người phải khí tiết khi hoàn cảnh không cho phép họ khí tiết được. Nếu khí tiết hết tại sao phải chạy trốn! Phải đầu hàng! vinh nhục khó lường quá!? Tôi luôn kính cẩn ngưỡng mộ những anh hùng tuẩn tiết vì Tổ Quốc như tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai… hoặc những bạn bè bất khuất bị bức tử trong các trại giam từ Bắc chí Nam. Tôi khinh miệt bọn lợi dụng chữ nghĩa chưởi bới, hạ nhục vô cớ anh em một nhà… Và tôi tự hỏi bao giờ cộng đồng hải ngoại mới đoàn kết được. Chưa đoàn kết được thì nói gì tới làm nên “Đại Sự”?
       Gần cuối cuộc đời anh đồng ý cho Nhà Xuất Bản Trẻ in lại toàn tập tác phẩm của anh và viết một tập “Hồi Ký Sơn Nam”. Nhà xuất bản trả tiền cho anh hàng tháng vài triệu đồng Việt Nam và chia lời phần tác quyền khi bán sách. Trong chuyến về Việt Nam năm 2003, mặc dù tuổi già nhưng anh cùng bạn bè ra tận phi trường Tân Sơn Nhứt đón tôi. Buổi hội ngộ ấy làm tôi muốn trào nước mắt. Không ngờ anh thương tôi như vậy. Cũng trong dịp về nầy, tôi với anh có vài buổi gặp gỡ với bạn bè cũ. Anh tâm sự : Ê bồ! bây giờ trong nước người ta dám nói rồi nghe bồ. Riêng anh thì chỉ nói cái rỗng thối của chế độ với bạn bè nhưng vẫn chưa thấy anh viết. Tôi thầm nghĩ không biết anh có viết về đề tài nầy không?
        Trong phần giới thiệu Nhà Xuất Bản Trẻ viết về anh như sau:  
        Gần 60 năm cầm bút, trải qua bao cuộc thăng trầm vất vả, ông đã có một số lượng tác phẩm thật đồ sộ: gần 300 truyện ngắn, hàng chục tập sách biên khảo về người và đất Nam Bộ. Ông thật xứng đáng với danh hiệu cao quí mà bạn đọc xa gần phong tặng “Nhà Nam Bộ Học”.
         75 năm cuộc đời đã trôi qua trên tấm thân gầy yếu, khắc khổ của ông. Những lận đận, long đong dường như chưa dừng. Con người có tư cách, như ông tự nhận, dường như không muốn nói láo. Ở tuổi 75, ông vẫn chưa dứt được những lo toan, trăn trở, chưa được hưởng nhàn (theo nghĩa thông thường) dù chỉ một ngày.
         Trong phần đầu vào truyện của tập “Từ U Minh đến Cần Thơ” có đoạn: Lão ta không nói láo. Gần đất xa trời rồi! Nói láo làm chi cho mang tội. Chẳng qua là kinh nghiệm trường đời có giới hạn. Họa chăng khi lão mất, người trẻ trở thành người già, nhớ lại bóng dáng lão, rồi đánh giá rằng đó là người có tư cách. Theo ngôn ngữ xưa trước 1945, có tư cách là có đầu óc, tức là người quan tâm ít nhiều đến chánh trị, là người biết vinh nhục có trách nhiệm.
  Tôi chỉ được anh tặng qua người bạn trước khi trở lại Mỹ tập đầu của toàn bộ tác phẩm “Hồi Ký Sơn Nam” năm 2003. Khi về lại Việt Nam năm 2007 tôi được anh bạn thân Nguyễn Bá Ngọc chở đến tư gia của anh, lúc nầy anh đang bị thương trong một tai nạn, anh bị trật xương tọa chỉ nằm một chỗ không ngồi được. Anh tiếp chúng tôi trong tư thế nằm dựa lưng trên chiếc gối. Anh vẫn sảng khoái nói cười với chúng tôi như thủa nào. Trông anh lạc quan, tự tại. Dịp đó tôi quên mang máy ảnh để chụp vài bức ảnh kỷ niệm với anh. Anh bạn tôi nói: Thôi vài hôm trở lại cùng tìm mua toàn bộ mấy quyn sách hồi ký của anh, luôn thể xin chữ ký lưu niệm, vì sách in ra Nhà Xuất Bản không đưa cho anh tập nào hết. Nhưng bận bịu công việc giờ chót tôi không trở lại được để thăm anh lần nữa như ước muốn. Tôi thầm nghĩ chắc lần về sau sẽ không còn gặp anh nữa!
      Giữa khuya ngày 13 tháng 8 năm 2008 vừa qua, anh Ngọc điện thoại báo tin anh Sơn Nam đã ra đi và sẽ được chôn cất ở Bình Dương như ý anh lúc còn sống. Tôi lặng người buồn bã. Anh ra đi thật sự rồi! anh bỏ thế gian nầy ra đi với cái tuổi đó cũng quá thọ rồi. Tôi nghĩ chắc anh cũng thanh thản tự tại như lúc anh còn sống?
Tôi thấy thói thường tình, khi người ta dù có tài cán đến đâu, khi còn sống thì ít được ai quan tâm đến cuộc sống của họ. Nhưng khi họ mất đi thì người ta tụ quanh xác chết để hưởng nhang khói vinh quang của người ấy. Cả khi người ấy đang còn sống nhưng cơ may sắp qua đời nay mai, họ cũng chuẩn bị cho cuộc đầu tư sau nầy. Như trường hợp anh Sơn Nam anh là hội viên của Hội Nhà Văn Thành Phố, lẽ ra Hội Nhà Văn phải lo hậu sự cho anh, nhưng Tỉnh Bình Dương đã đi trước một bước là dẫn anh lên Bình Dương chọn chỗ và lo thiết trí nơi an nghỉ cho anh. Khi thành phố nghĩ tới, lúc anh sắp qua đời thì đã muộn.
                

                                                       Viếng mộ nhà văn Sơn Nam năm 2007      
                             
        Cho hay người ta xử dụng người sống và xử dụng luôn cái xác của người ta để chứng tỏ mình có nghĩa tình và nơi sở tại của họ có một người tài danh nằm ở đó!
       Tôi là người ngưỡng mộ anh từ lúc còn mới biết đọc truyện, khi lớn lên được tiếp xúc với anh, được nghe anh tâm sự. Tôi khẳng định những điều Sơn Nam nói với tôi qua tâm tình trải nghiệm của anh là đúng. Anh là người của dân tộc, anh đóng góp cho Văn Học Việt Nam một công trình văn chương đồ sộ, cho hậu sanh muốn tìm hiểu về giải đất mới mà cha ông chúng ta đã khai phá, làm nên một vùng đất mới trù phú, là vựa gạo của cả nước Việt Nam. Và làm nên một nền Văn Hóa Đồng Bằng Nam Việt Nam. Nhà Văn Sơn Nam vẫn còn sống trong lòng những người yêu văn ông. Ông già Nam Kỳ vẫn đáng được nhang khói của hậu sanh. Tôi xin thắp nén hương lòng nhớ về anh trong sự tôn kính vô cùng.
                                               (Sacramento tháng 11/03)


            





          Nhà Thơ Truy Phong

           Nhà Thơ Truy Phong: Tên thật là Dương Tấn Huấn, thuở sinh thời ông là nhà giáo dạy Việt Văn ở các trường trung học ở Tỉnh Trà Vinh. Ông làm nhiều bài thơ, nhưng nổi tiếng nhứt bài “Một thế kỷ mấy vần thơ”, sáng tác năm 1956 và đăng trên báo Tiến Thủ cùng năm, sau nầy đăng lại tên tờ Mã Thương năm 1957. Cơ sở Chim Việt Văn Đoàn in tập thơ “Một Thế kỷ mấy vần thơ” năm 1970, trong nầy gồm nhiều bài thơ khác của tác giả.
      Học trò và mọi người quen gọi thầy là Thầy Truy Phong, quen dần cho đến nỗi ít ai nhớ tên thật của thầy. Hồi đó thầy dạy Việt Văn ở trường Trung Học Thánh Gioan, hình như sau nầy có lúc Thầy dạy hợp đồng cho trường Trung Học bán công Trần Trung Tiên?. Thầy luôn luôn mặc bộ đồ trắng, dáng người  trung bình, điềm đạm, tiếng nói nhỏ nhẹ và luôn có nụ cười thân áí, hiền từ. Tôi không phải là học trò của thầy trong mấy năm học Trung Học ở Trà Vinh, nhưng tôi biết thầy nhiều qua thơ của thầy. Sau nầy, khoảng năm 1969 anh Phan Công Minh, bút hiệu là Doãn Nhân, phu quân  của chị Mai Thị Thu Cúc, cùng một nhóm bạn bè gốc Trà Vinh và thân hữu thành lập nhóm Chim Việt Văn Đoàn ở Sài Gòn, anh  Minh là trưởng nhóm. Trụ sở là nhà của anh chị Minh, Cúc. Nhóm được Nhà Văn Sơn Nam và Nhà Thơ Kiên-Giang Hà Huy Hà làm cố vấn. Chim Việt liên lạc thường xuyên với thầy Truy Phong và đã xuất bản cho thầy 4 cuốn: Một thế kỷ Mấy vần thơ, Trời xanh trước mặt, Thái bình trở lại, Mặt trời lên. Trong thời gian nầy  tôi có dịp liên lạc với Thầy nhiều hơn. Tôi gọi Thầy là anh Năm cũng từ dạo đó.
         Khoảng năm 70 tôi có viết một tập truyện ngắn ”Kẻ Đào Huyệt”, tôi có gởi bản thảo  nhờ  anh đọc và cho ý kiến. Tuy nhiên tập truyện bị Bộ Thông Tin thời đó cấm không cho xuất bản.
          Khoảng gần năm 75, anh bị bịnh và phải vào nhà thương mổ hai lần, sức khỏe anh yếu luôn từ dạo ấy. Sau năm 75 anh phải rời căn nhà thân yêu ở Thanh Lệ về Cù Lao Quới Thiện lánh mình. Trong thời gian tranh tối tranh sáng sau ngày 30 tháng 4, một số bạn trẻ, trong đó có học  trò cũ của anh, vì muốn lập công với “Cách-Mạng” nên định “ đấu tố anh” ...may nhờ một bạn trẻ (HB) khác, biết tin nầy và mách cho anh biết. Anh chị và gia đình lui về Cù Lao Quới Thiện  sống cho đến ngày cuối đời ở đấy..
       Năm 2003, trong chuyến về lại Việt Nam, tôi và một số bạn bè có đến thăm anh. Lúc nầy anh mắc chứng bịnh  run rẩy tay chân, đi đứng phải có người  dìu. Chị Năm là người vợ tẩn mn ( anh thường gọi chị như vậy) duy nhất săn sóc anh. Khi tôi và anh em đến, chị đang đút bột cho anh trên chiếc võng mắc ở chái n
ngang. Anh ra dấu cho chị mời mọi người ra nhà trước. Một lúc sau chị dìu anh ra với bộ đồ tươm tất hơn. Trong dip nầy tôi có hứa với anh là sẽ lo phần tài chánh để in cho anh toàn Tập Thơ Truy Phong. Tôi biết ước mong của anh là có tập thơ như vậy. Anh ôm tôi và khóc khi tôi gợi ý đó.  Khi trở lại Mỹ, tôi lo chạy kiếm việc làm (lúc về Việt Nam là lúc tôi đang thất nghiệp). Sau biến cố 11 tháng 9-2002 nền kinh tế Mỹ đi xuống thảm hại. Tôi bó gối ở nhà không tìm ra việc. Đó là lý do tôi gởi tiền về cho anh có hơi trễ.  It lâu sau, tôi được anh bạn từ trong nước báo tin anh Năm đã ra đi. Anh mất ngày 8 tháng 5 năm 2005. Tôi ngẩn ngơ buồn. Cho tới nay tôi không được tin về tập thơ của anh
…Tôi không dám hỏi gia đình về việc nầy vì sợ hiểu lầm…Tôi vẫn  thấy áy náy và ân hận vì đã không thực hiện được tập thơ mà tôi đã hứa với anh khi anh còn sống. Xin thấp nén hương lòng tạ lổi cùng anh.


                        
                            
                        




                             Bút tự của Truy Phong
             Phần trích đoạn trong 169 câu của bài
               “Một thế kỷ mấy vần thơ




                 
                   




               



NỒNG ẤM XỨ KANGAROO
    *Thân tặng đồng hương Trà Vinh ở Úc Châu

                Chiếc máy bay lượn trên bầu trời ÚC. Từ trên cao tôi thấy trùng trùng đồi núi lẫn mây mù và cây xanh ở phía dưới.Tôi thực sự nhìn đất ÚC như hình cái nấm tay đặt trên mặt biển rộng giữa trùng dương bao quanh sóng vỗ. Chiếc máy bay hạ dần khoảng cách và đôi bánh lăn chạy trên đường băng. Tôi đến đất ÚC vào cuối thu, mây trời một vùng trong vắt, cái êm ả và nồng ấm của  những vạt nắng buổi sớm mai, cái hơi se se lạnh của buổi hừng đông làm tôi mang cái cảm giác rất lạ khi đặt chân xuống phi trường Sydney.
                 Tôi có những đứa em đi vượt biển từ năm 1979, một khoảng cách từ đó đến nay đã 30 năm, 30 năm cách biệt rất dài và rất nhớ nhung. Tôi ao ước đến đây để gặp lại những đứa em của tôi mà trước đây khi đưa các em xuống ghe rời quê hương là vào muôn trùng hiểm nguy chực chờ ngoài biển khơi, là cách xa miên viễn ngoài tầm uớc ao gặp lại…! Bây giờ chúng tôi gặp lại nhau, cái ôm thật chặt, những giọt nước mắt chảy ròng vì bao nhiêu cảm xúc ùa vào tim, tràn lên vòng mắt. Ôi những đứa em ngày xưa ra đi chỉ là những cậu bé, cô bé nay đã có vợ, có chồng, có con. Tôi lại có thêm em dâu, em r, có thêm mấy đứa cháu trai, gái ngoan hiền. Tôi đứng giữa đàn em cháu, nghe lòng mình chứa chan hạnh phúc, cái hạnh phúc thật tuyệt diệu! Ân sủng nầy  như  một nhiệm mầu mà Phật Trời ban cho chúng tôi! Chúng tôi cám ơn ba má ngày xưa đã quyết định, đã cắt lòng chia xa để anh em chúng tôi có được cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay.
                
        Tôi có những ngày đi đó, đi đây trên đất Úc hiền hòa êm ả. Tôi gặp lại những người thân, những bạn bè, những người ngoài phố. Tất cả mọi người mà tôi gặp gặp gỡ đều rất thân tình nồng ấm. Tôi có cảm giác tất cả mọi người ở đây là bà con ruột rà với nhau. Các cháu nhỏ gặp tôi khoanh tay cuối đầu dạ thưa kính cẩn như ở quê nhà, khác với nơi tôi ở ít thấy các cháu chào hỏi người lớn như ở đây. Tôi nghĩ có lẽ đời sống đất Úc được bảo đảm hơn, cộng đồng không lớn lắm và mọi người Việt sống gần nhau, cho nên thân tình gắn bó nhau hơn, gìn giữ tập quán quê nhà dễ hơn.
         Những ngày ở Úc, xứ sở của Kangaroo, tôi được các em tôi chở đi thăm các nơi. Cái mà tôi mong ước đầu tiên là muốn được nhìn tận mắt con Kangaroo. Đi thăm Featherdale Wildlife Park, chúng tôi sờ đầu con Kangaroo hiền hoà, đứng chụp hình bên cạnh con cù lần Koala đang nhai lá bạch đàn. Khung sở thú không lớn lắm nhưng cũng đủ để nhìn những giống vật mà chỉ có ở nước Úc. Chúng tôi ăn cơm tại chỗ với mùi khăm khẳm của giống vật ở đây.  
       Mùa thu đã tàn  trên vùng Canberra, nhưng mây trời còn trong vắt, cơn mưa nhẹ từng hồi chợt đến rồi đi qua. Một chút nắng vàng ửng lên cho ngày đi bộ quanh bờ hồ với nhiều cây lá vàng bao quanh thật thú vị. Một cặp thiên nga đang âu yếm ven hồ. Tôi cặp tay vợ tôi nhờ đứa em chụp một bức ảnh lưu niệm với đôi chim. Mọi người đồng tình với tôi cùng chụp hình với đôi thiên nga thân thiện bên bờ hồ, có vài con hải âu vờn bay ngoài xa.            
              

Khi tôi đến mùa thu vừa mới hết
Lá rụng đầy đường vắng gió se da
Nắng lung linh vài chiếc  rớt ven hồ
Bầy chim trắng vờn bay là mặt nước
Hình như hồn tôi không giữ được
Nhẹ bay theo cánh chim nhỏ lên trời

           Chúng tôi đến Brisbane, đi chân trần trên bãi biển Goldcoast. Bờ biển cát trắng pha một ít vàng chạy dài xa tít đến bờ núi mù mù. Nước trong xanh từng hồi sóng cuộn cuốn vào bờ. Tôi hít thật mạnh, thật sâu mùi biển gió trong lành và nhìn những cô gái bản xứ đẹp xinh đang đùa với sóng nước hay đi từng cặp trên bờ biển, hoặc nằm phơi nắng trên bãi cát nắng chói chan. Tôi đang bình yên sảng khoái với bờ biển Gold Coast mong ước từ lâu.
          Sau một vòng đi Brisbane, chúng tôi trở lại Sydney tránh được cơn bão vừa kéo đến ở đó. Xe chạy lên cao, lên cao: Blue Mountain. Tôi nhìn giải trời mây xanh xanh trên cao, vòng quanh đồi núi và xuống vực thẳm sâu, nghe tiếng gió và tiếng con suối chảy rì rào đâu đó không thấy. Hình núi ba cô gái chơ vơ một góc, trờ ra ngoài như muốn níu rừng mây. Chiếc cầu treo chở chúng tôi ra giữa rừng bạt xanh phía dưới và dừng lại ở giữa. Bây giờ tôi mới thấy dòng suối đổ từ trên cao chạy xuống triền trắng xoá ở một vài đoạn, nghe rào rào dưới lủng sâu bên phải. Một ngọn núi mọc nhô cao bên trái, chơ vơ giữa màu xanh cây lá, gần đó cũng ở phía triền núi, một toa tàu leo từ từ phía rừng cây xanh đi lên như con rắn trườn quấn thân cây. Đứng giữa cái hùng vĩ bao quanh, tôi chợt thấy mình nhỏ như con kiến đang trên sợi dây đu đưa. Chiếc lng rướn vào bờ bên, chúng tôi đi lên và men theo con đường từng bậc thấp dần và quanh co trong khu rừng cây không cao lắm nhưng cũng đủ cho tôi cảm nhận mình đi sâu và ẩn vào cây xanh bao quanh, có lúc đi ra, nhìn bờ thẳm sâu, ở dưới rất hẩm vực. Tôi có gần một giờ với bạn bè lẫn vào thiên thâm rừng vắng với vài tiếng chim, tiếng gió vi vu. Tôi thấy mình hòa vào thiên nhiên như một thời nào đó của tuổi nhỏ ở quê nhà đi  trong rừng đước, rừng tràm.
           Điểm thứ hai mà chúng tôi không thể bỏ qua được là Nhà Con Sò Opera House. Ảnh hưởng cơn bão ở Brisbane, hôm đến nơi đây, trời mờ áng mây mưa. Được một chút nắng chợt đến, chúng tôi chụp ảnh, quay phim, mọi người đi tham quan đổ ùa ra ngoài, đi lên từng bực dc nhà Opera House. Đứng trên cao nhìn về phố lầu cao tráng lệ, nhìn vòm cầu Harbour bắt vòng hùng vĩ, có một vài đoạn trên cầu nhô lên cổ tháp nóc hình mũi tên, chĩa thẳng lên khoảng không mù mù mưa nhẹ.
            Lên tàu đi Manly, tàu lướt biển trong vùng vịnh gió lộng, tàu ngang Opera House, tàu xa xa và xa dần phố biển. Đến vùng giáp nước, mưa đổ ào, sóng đưa con tàu ngả nghiêng. Tàu ghé bến, tàu lại ra đi, cuối cùng tàu đậu bến Manly. Chúng tôi đi tản bộ ra biển. Biển sóng ầm ào, mưa rơi nặng hạt. Tôi ngồi trong căn nhà bên bờ biển nhìn sóng vỗ trắng vào bờ . Bầy hải âu bay trắng như màu bọt sóng vỡ trên một góc mỏm núi nhô ra ngoài biển.  
                                                                                                    
            
                          
             Trời như chiều khách phương xa, mưa thôi rớt hạt, trời ửng màu hồng dễ thương. Chúng tôi đáp chuyến tàu đi về phía City. Lên bờ, đánh vòng ven bờ nước, nhìn cây cầu bắc ngang sông và dọc bờ sông nhiều cờ màu phất phới bay. Hôm nay ngày sinh nhựt thứ 21 ngày trùng tu phố biển? Laị chụp hình, quay phim lưu niệm. Buổi tối hối hả về trạm xe điện với mớ đồ mua ở phố Tàu (Market City có từ năm 1909) .
          Những ngày sau đó là những ngày anh em bạn hữu mời tới nhà dùng cơm trưa, cơm tối. Ở đâu cũng rộn rã tiếng cười, cụng ly chúc tụng, ngày ngày nối nhau không dứt “Rượu uống trùng phùng ly rót cạn, muôn giọt ân tình ngấm lòng say”.
          Ngày cuối trước khi về lại Mỹ, tôi được mời tham dự bữa cơm Tình Nghĩa do nhóm thân hữu Thiện Nguyện Trà Vinh tổ chức tại Nhà Hàng Hòa Bình nhằm mục đích chia xẻ với Hội Từ Thiện Úc đã có thiện tâm giúp đỡ Cháu Khang, một em bé bị phỏng nặng đến 80% từ Việt Nam sang Úc, hiện cháu đang điều trị tại Perth. Buổi cơm được bảo trợ bởi Bán Tuần Báo Việt Luận, Công Ty Du Lịch PT. Mini Bus Tour. Nhân dịp nầy tôi rất vui sướng được đóng góp cho buổi gây quỹ  hơn 50 tập thơ trong 100 tập thơ Nỗi Buồn Còn Đó mà tôi mang từ Hoa Kỳ sang. Sách được đồng hương Trà Vinh mua ủng hộ chỉ trong vòng vài phút là hết, có một số bạn hỏi để mua ủng hộ thêm, nhưng rất tiếc sách đã hết, vì trước đó tôi đã tặng cho gia đình các em tôi và thân hữu
     Buổi tiệc diễn ra trong tinh thần thân hữu đầm ấm của những đồng hương Trà Vinh và một số bạn hữu xa gần quen biết với người Trà Vinh. Tôi được gặp lại các bạn tôi lúc còn học với nhau từ Tiểu Học, Trung Học. Tôi gặp lại nhiều đồng hương thân thương Trà Vinh, ai ai cũng nồng ấm chuyện trò, nói hoài không hết chuyện. Bất ngờ nhứt là tôi gặp lại người bạn Sĩ Quan trong
Binh Chủng Nhảy Dù mà trước đây tôi nghe tin anh đã chết: Anh Nhuận, người bạn học hồi đó ở trường Trần Trung Tiên, cũng là một chiến hữu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị thương trong trận Hạ Lào năm xưa .
Gặp mầy tao tưởng như mơ
Người từ cõi chết bất ngờ còn đây!
Gặp mầy, như gặp lại tao
Mấy năm hào khí thuở nào binh đao
Mầy thằng mũ lệch đỏ ao
Tao thằng lính bộ, kéo nhau mấy chầu
Rượu vào máu nóng hừng đầu
Nghênh ngang ngoài phố, mệt đừ động đêm
Sáng ra hai đứa còn hăng
Rủ vài đứa  nữa uống thêm say nhừ
Mai đi bỏ phố lên rừng
Đứa còn đứa mất trong tầm đạn reo! 
           Hồi đó là vậy, bây giờ ra nước ngoài được ung dung với cuộc sống mới. Hai đứa gặp nhau mầy mầy, tao tao ở cái tuổi hơn lục tuần con cháu đầy đàn vẫn nghe ấm làm sao đó! Cám ơn nước Úc, cám ơn người đồng hương ở đây đã cho tôi có một dịp hội ngộ kỳ diệu!
                                                                                                                                                                                                                                                
                                                   ( Sacramento  24/5/2009 )                                                      
                        
          






SÀI GÒN NÓNG

               Hơn 20 năm xa quê, tôi ít khi trở về Việt Nam trừ khi có việc cần về thì mới thu xếp về. Vợ tôi vì có nhu cầu với nhiều lý do gia đình như mẹ vợ tôi đau, chị hoặc anh tôi đau hay cưới hỏi…Bà ấy về Việt Nam cứ như cách năm. Mấy lần đầu thì kệ nệ nhiều thứ. Sau nhiều lần thì vợ tôi nói : “Mang về Việt Nam nhiều thứ làm chi cho mệt, ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng có, chỉ cần mang tiền về thì khỏi lo kệ nệ cho mệt xác …còn bị các Ông Hải Quan kèo kọ đòi tiền lót trong các Passport mới yên thân”.
            Năm nầy tôi được báo tin sắp có đám cưới đứa cháu kêu tôi bằng bác. Tôi muốn về, luôn thể xem lại khu nghĩa trang  gia đình mà em gái tôi về lo xây sửa xong năm vừa qua, coi có cần bổ túc thêm gì không? Tôi nói với vợ tôi: “Năm nầy chắc tôi phải về một chuyến…lâu quá không về …về dự lễ cưới trước Tết vài ngày và sau đó ăn Tết tại quê nhà thử một năm xem sao. Từ ngày xa xứ tới giờ có hơn hai mươi mấy năm chưa có lần ăn Tết ở Việt Nam….vả lại anh em bà con cũng già yếu hết rồi, thăm nhau một chuyến nầy …chắc gì chuyến tới còn đủ mặt. Dịp đám cưới họ hàng qui tụ lại,  khỏi phải đi thăm hỏi từng nhà…”. Bà ấy làm thinh không nói gì…nhưng tôi đoán ý bà ấy cũng muốn về với tôi. Thường các bà kháo với nhau: “Đừng để các Ông về Việt Nam một mình…?” Tôi nghĩ vì dự đám cưới đứa cháu nên về có đôi hay hơn và có bà ấy theo thì chắc bà ấy yên tâm hơn. Tôi gợi ý: “Bà có muốn về với tôi không? Vợ tôi nhoẻn miệng cười…”Tôi chờ ông hỏi đó...!”
            Thế là chúng tôi chuẩn bị cho chuyến về Việt Nam. Từ đây đến lúc về còn hơn 6 tháng.Tôi lên Net mua vé. Làm chương trình xin nghỉ phép dài hạn ở chỗ làm. Bà xã tôi mua từ từ các món cần thiết? Cho tới vài ngày trước ngày khởi hành. Bốn cái Vali gởi đầy nhóc. Cân đi cân lại quá tải…Muốn thêm cái nầy, muốn bớt cái kia…Cái nào thấy cũng cần hết. Vợ tôi kệ nệ nào là xà bông tắm, nào là thuốc bổ…
         Tôi vừa cân kéo nhọc nhằn vừa nói:
              -Bà nói không cần mua đồ….thế mà…vẫn đầy ra đó.
Vợ tôi cười:
             -Chỉ là các món cần thiết…! Xà bông ở Việt nam không thơm, thuốc ở Việt Nam thường làm giả…?!
Mồ hôi mồ kê ra ướt áo bởi phải cân kéo lên, bỏ xuống 4 cái vali nặng nề. Bà xã tôi cẩn thận:
            -Phải cân kỹ cho đủ 25 ký, coi chừng dư... bị phạt uổng tiền lắm đó!
         Tôi lục đục cân đo. Cuối cùng tôi đẩy bốn chiếc 4 vali nặng trịch qua một bên. Tôi bật ra giường nằm thở dóc…Ôi! Tội nghiệp cái lưng già của tôi nó đau nhói. Con mắt tôi nhìn lên trần nhà thấy đơm đớm sao bay!!! Vợ tôi nói: “Anh mệt hả…cứ nằm nghỉ đi…mà anh xem kỹ… cân đủ chưa vậy…?”. Tôi nằm làm thinh!
           Mùa đông mới tới, thời tiết lạnh căm căm. Mây ngoài bầu trời như chì nặng xám.Tôi nhìn bầu trời loe loé vài vệt nắng vàng…vài cánh chim bay về phương trời xa tít. Tôi mơ màng một ngày về quê ăn Tết…Những ngày Tết năm xưa…Ôi vui thật là vui…!

          Chiếc máy bay hạ dần độ thấp…Tiếp viên Hàng Không nhắc nhở mọi người cài thắt dây an toàn. Tôi nhìn ra qua khung cửa sổ máy bay. Một vùng mây đục xám. Bây giờ chiếc máy bay đang ở trên không phận Việt Nam. Trời chập tối. Máy bay hạ dần. Tôi nghe ù ù trong lỗ tai…Một vài cơn xốc nhẹ…Máy bay nghiêng cánh. Tôi thấy nhiều ánh đèn lấp loé phía dưới. Tôi sắp đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt.. Tôi thực sự đặt chân xuống quê mình trong vài phút tới… Đèn phía dưới rực sáng hơn. Tôi thấy những con đường lớn với hàng dài xe đủ loại như đàn kiến đang bò nhanh phía dưới… Sân bay hiện ra. Những ụ đất ngày xưa làm phòng tuyến an ninh còn rải rác…những bãi cỏ lém nắng vàng còn nhấp nhô lên những mảnh vụn của một thanh sắt rỉ hoặc một phần nhỏ của một bộ phận nào đó của một chiếc xe GMC nhà binh. Đã 38 năm…chiến tranh đã dường như bị quên lãng. Nhưng dấu vết chiến tranh vẫn còn đâu đó quanh đây. Còn trong đầu tôi…còn trong đầu của người chiến thắng... Chiến tranh bao giờ thực sự được quên trong đất nước và con người Việt Nam.
               Chiếc máy bay chạy dần về phía chỗ đậu. Chiếc máy bay tắt hẳn động cơ. Một sự im lặng mơ hồ trong lồng phi cơ. Tôi lần lượt đi theo mọi người ra ngoài. Vừa ra khỏi lồng phi cơ, cái nóng ùa chụp phả vào người…tôi vội cởi bỏ thêm áo, mặc dù tôi đã bỏ đi chiếc áo khoác trước đó vài phút…
               Đứng xếp hàng chờ Hải Quan kiểm soát. Tôi nhìn vào các khung chờ. Các nhân viên Hải Quan với gương mặt lầm lì…đôi lúc nhìn lên xoi mói một vài người nào đó. Tôi có cái cảm giác mình bắt đầu đi vào cửa của một vùng trấn áp…Trấn áp từ mọi phía…! Cơn nóng bức làm tôi rịn ướt mồ hôi sau lưng…Tôi mơ hồ lo sợ một điều gì đó không rõ lý do có thể đến với mình. Một tên lính “Ngụy” về nước…
               Đến lượt tôi bước đến Khu Vực Trình Xét. Tôi đưa passport…Tên Hải Quan nhìn tôi sau khi mở passport…Tôi đoán mò chắc hắn không thấy tôi lót tiền trong ấy chăng? Một phút trôi qua, hắn áp sổ thông hành của tôi lên khung máy…hai phút trôi qua…Tôi bình tĩnh nhìn vu vơ vào khung máy…Hắn ngả lưng ra ghế và nói với tôi: “Anh chờ tí nhé, Cái máy hôm nay quét chậm quá…”
              Vợ tôi nhìn tôi lo lắng…Một vài chị trọng tuổi người miền Nam xếp hàng kế bên nói nhạo giọng Bắc: “Các Anh ơi! Em chờ các anh gọi em tới mà sao các anh chẳng gọi em… thế lầy là thế lào…”. Vài viên Hải Quan ngước lên nhìn chị và cười. Cái không khí nằng nặng dường như trôi qua. Cuối cùng tên Hải Quan đưa lại giấy thông hành cho tôi…
            Nóng trùm phủ cả không gian tôi đang đứng chờ để lấy hành lý…Tôi thực sự đã đặt chân vào Sài Gòn…Sài Gòn nóng…! Cơn nóng trùm kín người tôi. Cơn nóng muốn cháy thịt da tôi. Tôi có cảm giác tôi đang đi vào lò nung…Lò nung của Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa…!
           Cái háo hức về quê ăn Tết, về quê nhìn lại anh em, bà con ruột rà, về quê nhìn lại làng xóm nơi mình lớn lên…Tôi bỗng nghe nghèn nghẹn trong cổ…! Cái bước đầu tiên nơi đặt chân đến làm hoa đôi mắt, làm khản khát nơi cổ họng. Giây phút ấy trôi qua. Tôi chợt mừng vui khi thấy các em, các cháu tôi đứng vẫy tay bên ngoài… Chúng tôi đẩy nhanh chiếc xe đồ đến chỗ người thân và ôm chầm lấy từng người. Hình như tôi quên hết cái nóng hừng hực nơi phía ngoài nầy vì niềm vui trào dâng muốn rơi nước mắt, vì những trái tim cùng hòa nhịp tình thân ruột rà. Ôi! Đây mới là giây phút ấm áp, đây mới thật sự là động lực làm tôi muốn quay về…!

          Ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhứt, chiếc xe chở chúng tôi vào luồng xe chật ních trong thành phố. Các xe Honda chạy dọc, chạy ngang, lao lách vô tội vạ…Tài xế phải bóp còi inh ỏi. Mồ hôi tôi lại rịn ướt sau lưng vì tốc độ xe chạy chậm với lại cái máy lạnh của xe bị trục trặc, lúc có, lúc không. Cái nóng bên ngoài ép vào lòng xe…Chiếc xe len chạy trong ngổn ngang của cái nóng trên đường. Tới ngã tư, ba bốn tên Công An Giao Thông thổi còi bắt xe không tuân thủ luật lệ…Chiếc xe chúng tôi vừa qua nửa đường ngã tư. Một tên công an cầm gậy chỉ về hướng xe chúng tôi, một tên khác bắt xe chúng tôi dừng lại. Chú tài xế nói: “Tết…tụi nó kiếm tiền ăn Tết”. Xe tấp vào lề. Tôi hỏi chú tài xế xe mình bị lỗi gì?. Chú cầm chiếc cặp giấy tờ xe và kẹp vào đó giấy một trăm ngàn tiền Việt Nam và nói: “Tụi nó đòi tiền ăn Tết chớ xe không có lỗi gì đâu chú”. Tôi ngao ngán nhìn chú tài xế. Chú mở cửa xe và bước xuống đi đến chúng để trình giấy tờ. Vài phút sau chú tài xế quay lại xe. Tôi hỏi: “Nó cho đi hả chú. Chú tài xế lắc đầu. Tụi nó nói: “Tết gần đến rồi mà chung chỉ có một Xị (Ám chỉ 1 trăm ngàn)” Chú tài xế nói:”Chắc phải thêm cho đủ 2 Xị. Đúng như lời chú tài xế nói. Sau khi lấy 2 trăm ngàn, chúng cho xe tiếp tục chạy. Chú tài xế cho chúng tôi biết thêm là tụi nó thường nhìn các bảng xe từ dưới các tỉnh lên Sài Gòn đón rước khách nước ngoài về, hoặc khách du lịch. Để tránh rắc rối và chờ đợi, các người mướn xe thường cứ kêu tài xế chung tiền để khỏi phải mất thời giờ…Nếu không chung cho tụi nó thì nó hoạnh hẹ tìm ra mọi cớ để giữ xe hoặc đưa vụ việc về Cơ Quan Công An thì còn phiền hơn nữa… Chú thở dài…cũng may thường các vị khách bao đều trả cho tụi tôi khoản tiền nầy. Tôi định bụng sẽ chi trả lại cho chú về khoảng tiền vô tội vạ nầy khi về đến quê. Chú tài xế nói: “Lệnh trên không cho tụi Công An Giao Thông có tiền mặt trong túi hơn 5 trăm ngàn, nhưng trong cốp xe của tụi nó lúc tan ca thì tiền cỡ  gần bạc tỉ đó chú ơi!”
            Cơn nóng trên đường như nhét vào đầu tôi nỗi nhức nhối buồn đau cho những người dân thấp cổ bé họng, cho những mảnh đời cơ cực dưới sự cai trị của một tập đoàn Ăn Cướp từ trên xuống dưới. Họ sống trong những dinh thự hoành tráng, nhung lụa phủ phê. Họ đi trong những chiếc xe bạc triệu đô la…Họ ăn mặc sang trọng. Họ du hí thừa dư. Họ đưa con cái ra nước ngoài. Họ mua nhà, đầu tư ở ngoại quốc…Họ chia nhau đáp cánh an toàn…! Tiền từ đâu??? Ôi! những công bộc, đầy tớ của nhân dân…!
“Nắng Sài Gòn…em đi mà chợt mát
Bởi vì em…mặc áo lụa Hà Đông
Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”
                            (Nguyên Sa)

          Ôi! Cái nắng Sài Gòn dịu mát...Cái nắng hoàng kim soi bước em đi trên hè phố. Cái nắng hồng hào da thịt con gái buổi sớm mai. Cái nắng môi son của những thiếu nữ giữa sân trường.  Cái nắng ấm trông mắt nhìn ai xuyến xao vời vợi …Cái nắng hực hở môi kề, má áp một thuở yêu người….Hết rồi cái nắng năm nao….! Nắng bây giờ đổ lửa toát mồ hôi. Nắng đang thiêu đốt da thịt mọi người chạy tất bật trên đường. Nắng làm tôi ngộp thở trong cơn buồn vỡ vụn!
           Chiếc xe thoát ra đến Phú Lâm, Bình Chánh, trước đây khu vực nầy hoang trống với những thửa ruộng chia khuôn, mút mút màu xanh của lúa. Bây giờ là những dãy nhà liền nối ngổn ngang, cái cao, cái thấp, xen lẫn những tòa cao ốc chỏi trời. Các cửa hàng ăn uống, các thương hiệu bán buôn che khuất màu xanh của những thửa ruộng lùi dần về phía sâu, có nơi như mất hẳn. Xe rẽ chạy vào đường Cao Tốc. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn vì hai bên đường có cây xanh, có ruộng lúa. Chú tài xế nói với chúng tôi: “Trên con đường nầy cũng dễ bị bọn công an núp bắn tốc độ. Khi bị bắn tốc độ thì phải chung tiền cao gấp nhiều lần…khoảng vài triệu đồng. Nếu không chung tiền cho chúng thì tài xế bị treo bằng lái…Làm nghề tài xế mà bị treo bằng lái thì cả nhà đều bị đói chú ơi…! “
            Tôi nhìn ra bên ngoài cố hình dung lại các khoảng đường ngày trước tôi đi qua, nhưng không đoán được gì cả. Hồi còn đóng quân ở Quận Bến Tranh khi về lại Sài Gòn tôi nhớ mình đi ngang Long An, rồi Bến Lức…Tôi hỏi chú tài xế:”Mình tới Long An chưa? Mình qua cầu Bến Lức chưa?” Chú tài xế chỉ tay về bên trái….”Phía trong kia kìa chú. Mình đi trên đường Cao Tốc nên không qua các chỗ ấy, đường được làm phía ngoài không qua các thị trấn đó”.
          Rồi xe vào Ngã Ba Trung Lương. Nơi đây bây giờ lạ hoắc. Phố nhà chật ních…Xe rẽ vào Mỹ Tho. Xe không còn dừng lại để nghe tiếng gọi mời của các em bé bán mận Hồng Đào, ổi xá Lị, bánh mứt. Thay vào đó là các cửa hàng trưng bày bánh kẹo, trái cây đủ loại. Ngã Ba Trung Lương bây giờ là một ngã ba phố. Xe vào thị Xã Mỹ Tho. Xe qua cầu Rạch Miểu. Xe chạy qua cầu Hàm Luông. Xe xuyên Tỉnh Bến Tre. Xe rẽ về Cái Mơn, Chợ Lách…Xe chờ qua Bắc Cổ Chiên. Xe chạy thêm hơn tiếng nữa. Xe đỗ lại quê tôi. Đoạn đường về lần nầy không qua Cầu Mỹ Thuận, không qua Vĩnh Long, không qua Lồng Hồ. Khoảng đi thu ngắn hơn 60 kí lô mét.
          Suốt dọc đường hình như nhà cửa mọc lên dầy kín…vườn tược, cây trái bị đẩy lùi về bên trong. Người dân vùng quê chường ra mặt đường với những hàng quán: Trạm Xăng nhỏ, quán ăn, quán cà phê võng, nhà trọ…Gần các thị trấn thì có thêm chỗ nghỉ tắm hơi, massage, quán nhậu, tiệm uốn tóc…Bề mặt của thành phố, bề mặt của những con đường đầy vẻ phồn hoa sung mãn. Những phía sau là gì? Là những ngõ hẹp ngập nước. Những mái nhà xiêu vẹo, những mảnh đời cơ hàn lê kéo cuộc đời không có ngày mai. Những bà mẹ bán con cho người nước ngoài. Những em gái 18, 20 làm bé cho các đại gia, hoặc làm gái gọi, gái bao. Đa số các em gái đã tự nguyện hiến thân mình để cứu nợ nghèo cho gia đình. Rồi qua cơn lưu lạc các em bị cuốn vào dòng “nham nhở cuộc đời” với phồn hoa đầy cám dỗ ở các thành phố.  Những cậu em mài lưng trần làm thuê, làm mướn hoặc ma cô, ma cạo để tìm miếng ăn qua ngày. Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam một trời một vực.
       Qua những ngày về quê thăm bà con, dự đám cưới.Tôi cùng các em tôi làm một chuyến du hành về Phan Thiết, Bà Rịa, Long Hải, Vũng Tàu…Chúng tôi qua các khách sạn, quán ăn. Chúng tôi mới thấy sinh hoạt ở Việt Nam không phải rẻ mà đắt đỏ. Chúng tôi đã gặp những người dân mỗi ngày lao nhọc chỉ kiếm chừng vài trăm ngàn, các em bán vé số cũng chỉ hơn trăm ngàn. Lương công nhân mỗi tháng chừng hơn 2 triệu. Các con cháu chúng tôi thấy các quán ăn Burger King, KFC, McDonald là nhào vô vì chúng quen hơi các món ăn nầy. Mỗi chiếc bánh sandwich giá 170 ngàn đồng, 3 miếng thịt gà ở KFC giá 190 ngàn đồng. Khi vào đây chúng tôi ngỡ chắc vắng khách vì giá quá cao so với đồng lương mọi người…Nhưng lạ thay các cô ấm, cậu ấm ngồi ăn đầy…có cả mấy người lớn nữa.
          Qua những ngày luồng lấn cùng người bạn thân ở Sài Gòn vào các tụ điểm cà phê, ăn nhậu…Tìm hiểu qua những câu chuyện trao đổi tình cờ, tôi mới thấy bọn nhà giàu, các quan chức, các cậu ấm nhà quan…phung phí tiền bạc một cách vô tư. Một buổi ăn với rượu đắt tiền có hơn ngàn đô cho vài người. Chúng đi trên những chiếc xe hiệu nhập từ bên ngoài như: Mercedes, Lexus, Acura… Nhà chúng nó là những ngôi biệt thự hoành tráng kín cổng cao tường. Nguồn tiền của bọn họ từ mọi cách ăn cướp có bảo chứng, từ gian lận mưu mô, từ cửa quyền chức tước. Trung ương ăn theo cách trung ương, tỉnh, huyện, làng, ấp ăn theo kiểu tỉnh huyện làng ấp. Khẩu hiệu “Nhân Dân đi trước, Nhà Nước theo sau” hoàn toàn là ngụy ngôn lừa bịp.
         Trên đường xuôi ngược: Những chiếc xe Honda rẻ tiền của các công nhân đi làm xen với những chiếc xe hơi bóng nhoáng. Những người gù lưng ướt áo trên đường bên những người ngả lưng trên chiếc ghế nhung trong chiếc xe hạng sang. Những ngôi nhà mái tôn xen những cao óc chỏi trời… Những ngõ hẻm ngập nước, những mái nhà tôn rỉ xét thâm đen…những mùi hôi thối nồng nặc của cống rãnh đen ngòm…Che lớp bên ngoài là những cửa hàng sang trọng với mùi nước hoa thơm lừng. Ở khắp mọi nơi: hiện rõ, lẫn lộn hai thế giới giàu nghèo cách biệt thật lớn lao.
            Sài Gòn với tôi trong chuyến về nầy là những cơn nóng buồn phả vào mặt, lẫn vào hồn, những bụi cát len vào lưng, rơi vào mắt… mờ mờ nhân dạng. Đi đâu cũng thấy các khung vải đỏ với chữ to “Mừng Xuân, Mừng Đảng Quang Vinh”. Ôi! đúng chỉ là mùa Xuân của đảng, còn nhân dân thì đã mất hết mùa Xuân từ ngày có Đảng cai trị. Khi Đảng làm sai, các ngài làm sai, nhân dân đứng lên phản đối thì các ngài quy chụp họ là phản động, nghe theo lời xúi dục của các thế lực thù địch bên ngoài. Đảng chưa bao giờ nhận làm sai, các ngài chưa bao giờ dám nhận tội về việc mình làm sai, làm trì trệ bước tiến của dân tộc. Tôi đoan chắc rằng không có thế lực bên ngoài nào đủ mạnh để lật đổ được chế độ của các ngài (Lực lượng người Việt hải ngoại). Chỉ có nhân dân trong nước, chỉ có những người trong hàng ngũ các ngài đứng lên chống lại các ngài. Thưa các ngài: “Bao giờ các ngài mới từ bỏ quyền lực…để cho nhân dân Việt Nam thực sự có mùa Xuân NHÂN QUYỀN-TỰ DO-HẠNH PHÚC-ẤM NO thực sự? Bao giờ? Xin các ngài hãy sáng suốt nhường quyền cho một vận hội mới thì cái họa mất nước trước bọn giặc Tàu sẽ được cứu vãn. Cơ may đất nước mới thực sự vươn mình trổi lên ngang hàng với các nước tiến bộ trên thế giới. Các chất xám của thế hệ thứ hai, thứ ba của thuyền nhân Việt Nam trên toàn thế giới cộng với chất xám của tuổi trẻ trong nước sẽ là chiếc đũa thần đẩy đất
nước đến chỗ vinh quang thật sự. Các ngài sẽ còn có chỗ đứng trong lòng nhân dân Việt Nam. Các ngài nghĩ sao???”
           Về quê ăn cái Tết nhạt nhẽo. Một cái Tết mà tôi mong muốn được về hơn 20 năm. Thế mà Tết đến tôi nằm co ro với mồ hôi ướt áo. Trong đêm trừ tịch tôi chờ nghe tiếng pháo…Nhưng
không…!  Nhà nước cấm dân đốt pháo, nhưng đã bỏ ra cả tỉ đồng để bắn pháo bông. Cả tỉ đồng lẽ ra giúp cho các gia đình nghèo có một ngày xuân đầm ấm, các cháu nhỏ có được một trang phục mới. Trên bàn thờ nhà nghèo có được miếng bánh, dĩa trái cây.
     “Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã thay tên”…Tôi trả cái nóng lại cho Sài Gòn. Tôi trở về Cali nắng ấm. Người cảnh sát Hải Quan tại Phi trường San Francisco nhận cái Passport từ tay tôi với nụ cười và câu nói: “Well come back to United State”.
Tôi nghĩ trong đầu: Tôi đang trở về nhà, nơi chốn thực sự có Tự Do-Dân Chủ -Nhân Quyền.
  
                                                  
                                     (Sacramento Tháng 2 năm 2013)









LAN MAN ĐÊM GIAO THỪA Ở CALI



             Đêm giao thừa năm nay rơi vào ngày thứ năm, ngày hôm sau phải đi làm…. mà có đi làm hay không thì đón giao thừa năm nào cũng vậy, chỉ có hai vợ chồng tôi thôi.Thường giao thừa là lúc nửa đêm, hai đứa con còn ở chung với vợ chồng tôi thì đi ngủ sớm, đứa thì lo đi làm, đứa thì lo đi học sáng hôm sau. Mấy đứa khác thì ở riêng. Chúng nó cũng đi ngủ sớm.Tết với tụi nhỏ giống như ngày thường, chỉ có người lớn thì quan tâm và cố gắng duy trì trong chừng mực nào đó có thể làm được. Cộng hưởng với sinh hoạt của của xã hội Mỹ, mọi người phải chạy theo vòng quay không thể dừng lại được. Tuy nhiên gần Tết mọi người cũng phải cố gắng bỏ chút ít thời gian để lo chuẩn bị đón Tết.
            Đêm Giao Thừa vợ tôi chuẩn bị mâm hoa quả: Cầu-đủ-xoài thêm chậu bông, nhang đèn chờ 12 giờ khuya để cúng Giao Thừa. Có năm tôi mua thêm vài phong pháo để đốt cho vui. Quanh xóm có nhiều gia đình người Việt. Gần nhất là nhà đối diện với nhà tôi cũng là người Việt. Đêm Giao Thừa tiếng pháo hai nhà nổ vang và quanh đây đâu đó pháo cũng nổ đì đùng ở các nhà người Việt. Sau vài phút tiếng pháo dứt nổ. Chúng tôi nói với nhau: “Chúc mừng năm mới …rồi thôi.Vợ tôi lâm râm với ba cây nhang khấn vái đất trời ngoài bàn thờ đặt trước cửa chính.Tôi cầm sẵn hai  ly rượu vang chờ khi vợ tôi cúng xong cùng nâng ly chúc mừng sức khoẻ cho nhau. Gió lạnh thổi tạt vào người buốt lạnh. Chúng tôi khép cửa vào bên trong thấp nhang trên bàn Phật và bàn thờ ông bà, cha mẹ. Hai chiếc bóng ngồi lặng lẽ nhìn nhau…đôi khi tôi nhắc với vợ tôi vài câu chuyện nhỏ về Tết ở quê nhà. Những câu chuyện cũng ngắn gọn…rồi thu xếp bàn cúng cùng đi ngủ vì ngày mai mùng 1 Tết, chúng tôi phải đi làm, mỗi người một công việc. Mấy chục năm qua…mỗi giao thừa dường như là như vậy. Lặng lẽ hai chiếc bóng già cố níu giữ lại một phần nào đó của tập tục Tết quê nhà. Đôi khi ngày mồng 1 rơi vào thứ Bảy hoặc Chúa Nhật thì khi cúng cơm ông bà chúng tôi kêu các con đến thắp nhang trước bàn thờ và nói đôi điều về tập quán Tết ở Việt Nam. Tụi nhỏ nghe là nghe vậy chứ chúng chẳng thiết hỏi han về tập tục đó vì chúng không quan tâm cho lắm…ba đứa lớn sinh ở Việt Nam thì chỉ lờ mờ nhớ vài điều gì đó,còn thằng út sinh bên nầy thì cứ ngẩn ra chẳng biết gì hết. Tôi chợt nghĩ…rồi kế tiếp các thế hệ sau chắc sẽ mất luôn. Nghĩ mà buồn. Buồn rơi nước mắt…!
         Tết Cali có tổ chức Hội Chợ Tết cho cộng đồng vui chơi. Thường thì các cụ cao niên và trung niên đứng ra tổ chức với sự tiếp tay của một số bạn trẻ qua đây lúc tuổi đủ để biết và nhớ về Tết Việt. Người lớn dắt trẻ em vào đó đi lòng vòng trong khu Hội Chợ ăn uống, nghe ca nhạc. Đa số các bà, các em bé mặc áo dài, còn các em lớn thì ăn mặc tùy tiện. Các lão bô mặc áo dài khăn đóng làm lễ Tết theo truyền thống. Lân múa, pháo nổ rộn rã trong hai ngày. Thi tài nói tiếng Việt, thi Hoa Hậu áo dài thiếu nữ, bói quẻ, bốc xâm, trò chơi kêu lô tô….Màu sắc xuân tha phương chỉ có vậy. Người tổ chức cố gắng duy trì sinh hoạt Hội Tết như một sự nối kéo, giữ gìn truyền thống Văn Hóa Việt. Tôi chợt nghĩ có đủ để duy trì truyền thống cho lớp trẻ không? Khi chúng lớn lên trong cái tổng thể Mỹ, nói tiếng Mỹ nhiều hơn nói tiếng Việt…xã hội Mỹ cuốn chúng chạy theo với tháng ngày hội nhập…Thời gian…rồi sẽ về đâu? Cộng đồng có mở các lớp Việt Ngữ cho các cháu nhỏ học tiếng Việt, số con em đi học được là bao? chúng học tiếng Việt có đủ để đọc sách Việt không? Đa số các em được cha mẹ cho đi học từ nhỏ.Khi các cháu lên Trung Học thì sẽ khó mà học tiếp vì bài học, bài tập ở trường càng lúc càng nhiều. Lúc lên Đại Học thì bỏ luôn vì làm sao có thời giờ để đi học tiếng Việt. Các cháu miệt mài học toàn thời gian để mong ra trường và đi kiếm việc làm. Thử hỏi với số vốn mấy năm học chữ Việt có đủ để các em đọc và hiểu văn chương Việt không? Nhiều gia đình cố gắng bắt con cháu nói tiếng Việt ở nhà, tuy nhiên chúng cố gắng nói chuyện với người lớn, còn khi chúng nói chuyện với nhau thì toàn xử dụng ngôn ngữ Mỹ. Một số các em nói lưu loát tiếng Việt nhưng chưa chắc các em đọc và hiểu văn chương Việt. Chúng thường đọc sách tiếng Mỹ, nhiều em có năng khiếu viết văn thì chỉ viết bằng tiếng Mỹ. Mặt khác, nền văn học bên ngoài nầy có đủ sách vở để các cháu tìm hiểu và đọc không?. Thơ văn thì chỉ có những người lớn tuổi còn nghĩ đến, còn viết và in ra sách. Sách in ra tốn kém, nhưng khi ra mắt sách thì chỉ có các người lớn tuổi và bạn quen biết vài chục người, đông lắm là hơn trăm người tới tham dự. Số người tham dự mua sách ủng hộ chỉ đủ trả chi cho chi phí tổ chức ra mắt sách. Số sách còn lại cũng chỉ để tặng cho các bạn lớn tuổi đọc. Sách bày bán ở tiệm sách ư? người ta bỏ tiền ra ăn một tô phở 6,7 đồng chứ chả thèm mua một quyển sách cỡ giá như vậy. Tôi có 2 tập thơ in thành sách. Quyển đầu in 300 cuốn để tặng bạn bè xa gần và các tổ chức hội đoàn trong các buổi sinh hoạt. Số còn lại khi có dịp sang Úc Châu thăm mấy đứa em tôi định cư ở đó. Tôi mang tập thơ sang Úc để tặng cho bạn bè. Sẵn dịp đồng hương Trà Vinh có tổ chức buổi cơm từ thiện để quyên tiền giúp một em bé ở Trà Vinh bị phỏng nặng, được một người Úc bảo trợ cho sang Úc chữa trị. Trong dịp nầy tôi cho ra mắt Tập Thơ luôn… số tập thơ còn lại trong đêm đó được bà con ủng hộ hết. Số tiền thu được khấm khá. Tôi xin tặng hết số tiền đó cho buổi cơm gây quỹ giúp cho em bé bị phõng. May quá 300 cuốn đã gần hết.
       Tập thơ thứ 2 vì muốn ra mắt sách chung với bạn thơ Giang Thiên Tường, con trai út của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc nên tôi in 500 quyển. Sau buổi ra mắt và tặng bạn bè chỉ vơi đi hơn trăm cuốn, còn lại hơn 300 cuốn nằm mọc nấm ở nhà kho. Tôi nghĩ bụng sẽ không in nữa mặc dù tôi có thể in ra 2 tập thơ và một tập truyên ngắn !
        Từ ngày Internet nở rộ, máy computer rẻ, các nhóm thơ văn thành hình nhiều. Thơ văn nở rộ trên hệ thống Net và được lan tỏa ra khắp thế giới. Người ta đọc thơ văn và tìm hiểu qua các tài liệu khá đầy đủ trên GOOGLE. Từ đó một số các tạp chí, nhật báo tự khai tử dần. Sách in ra ai ủng hộ đây? Tôi nghĩ cách “Tại sao mình không làm ở trang Blogger?”. Tôi thự hiện và phổ biến 2 tập thơ và tập  truyện ngắn trên GOOGLE BLOGGER  chỉ mất công mà không tốn kém lại được NET liên kết đi khắp nơi.
        Tìm hiểu thơ văn trao đổi trên Net tôi thấy người viết cũng chỉ là những bậc cao niên hoặc trung niên làm thơ, viết văn, khảo luận, âm nhạc….chuyển đạt cho nhau hàng ngày. Có một số các bạn trẻ tham dự nhưng đây chỉ là các em lớn tuổi có trình độ học vấn sẵn ở Việt Nam được bảo lãnh hay đi du học sang Mỹ còn thích văn chương Việt nên tham dự, tuy nhiên số nầy rất ít không đáng vực dậy cho nền văn học trong tương lai ở hải ngoại một khi các bậc cao niên tàn lụi.
         Gần đây xuất hiện vài tài năng viết của các con em của cộng đồng Việt tại hải ngoại, nhưng chỉ viết bằng tiếng Anh. Đa số các tài năng trẻ Việt đi vào dòng chính của nước Mỹ hoàn toàn như người Mỹ. Sự thành công của con em người Việt trên mọi lãnh vực từ văn học, kỹ thuật, khoa học cả chính trường rất đáng tự hào….Chúng ta có những thế hệ đàn em, đàn con trở thành bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, những khoa học gia lỗi lạc, các nghị viên thành phố, các nghị sĩ tiểu bang, liên bang. Trong chánh phủ có người làm chức cao trong Bộ Tư Pháp đến chức Phụ Tá Bộ Trưởng, trong Quân Đội thì mới đây có tin 13 sĩ quan gốc Việt được thăng cấp Đại Tá…   nhưng đó là sự thành công của người Mỹ gốc Việt. Chúng ta chỉ còn giữ được tinh thần Việt nhưng văn chương Việt khó mà kéo dài được trong mai hậu ở ngoài nầy khi lớp già không còn. Hoặc giả văn chương Việt cần được dịch ra tiếng Anh thì có cơ may được con cháu chúng ta đón nhận. Chỉ có cách nầy mới đưa con em ta gần gũi với truyền thống Việt, văn hóa Việt. Còn các hình thức khác chỉ là thời vụ…không đủ để kéo chúng gần truyền thống Việt là bao. Tuy nhiên có còn hơn không.
       Cái khổ của những người lớn tuổi ở ngoài nầy là lòng hoài nhớ cố hương. Nỗi lòng như là cơn sóng ngầm rì rầm dưới bề mặt cửa trùng dương êm ả. Nhìn về hướng quê nhà muốn quay về nhưng không về được…không về được trong một ý nghĩ không muốn nạp mình trong khuôn khổ bất an từ mọi phía ở đó. Ở bên ngoài an cư thoải mái nhưng thấp thỏm chờ đợi một điều gì đó ở trong nước đổi thay, dễ thở một chút...?. Họ bị dằn xé bởi hai phía. Đất dung thân thì chỉ cho là nơi  tạm cư chờ ngày về quê hương. Ngày về thì cứ mịt mù bóng nhạn…
     Có người bạn tâm sự về chuyện về hay không về với tôi như thế nầy: “Con cháu mình đang sinh hoạt nơi đây muốn dứt rời đâu phải dễ! Mà trở về quê thì đâu dễ sống như ngày xưa! Vì mấy chục năm sống quen với lối sống Mỹ và lối suy nghĩ của người dân Mỹ, sự an toàn tuyệt đối trong mọi lãnh vực: Trẻ con, phụ nữ, già yếu, bệnh tật được ưu tiên…! Nói một cách đơn giản như bữa ăn ở đây chỉ có một con ruồi lọt vô nhà thôi thì bỏ đũa tìm đập nó cho bằng được. Bị bệnh vô nhà thương thì Bác Sĩ, Y Tá và mọi người trong bệnh viện săn sóc, trị liệu đúng mức, không phải chạy lót cho y tá, bác sĩ. Ở khắp nơi mọi người đều sắp hàng chờ đến lượt mình. Vô ý chạm người khác là xin lỗi ngay. Một đứa trẻ thấy 1 đồng bạc rơi bảo nó lấy. Nó lắc đầu nói:Đó không phải là tiền của tôi”. Người say rượu lái xe bị cảnh sát còng tay phạt tù, phạt tiền trắng mắt…Nuôi một con gà gáy ó o… mà nhà bên hàng xóm không chịu, nó thưa cảnh sát…mình phải đem bán con gà đi….Đó…! Những điều đơn giản như vậy đã quen mấy chục năm sống ở Mỹ….Liệu ông về bên đó có sống được không? Sống bên nầy thấy vậy mà nhất thế giới đó bạn….!
      Ngày qua ngày, bóng chiều càng nghiêng về một phía tuổi đời. Tôi nghĩ đến cái chết sẽ tới không xa…Chết nên chôn hay nên đốt thân xác thành tro bụi? Vợ tôi đọc kinh Phật, đi chùa nhiều thì nói: “Cứ đốt ra tro rồi đem tro ra biển…thân cát bụi hãy để cát bụi chìm vào biển…bụi không làm vướng bận trần ai”. Tôi thì nghĩ khác: “Nên chôn để có nơi cho các con cháu có dịp đến …cho dù ít- dù thường cũng là chỗ nhớ để nhắc nhở mối liên hệ đời sau. Vợ tôi nói: “Chôn tốn nhiều tiền mà chắc gì con cháu có thời giờ để đến thăm”.Tôi đổi ý:: “Nên đem tro cốt về Việt Nam chôn trong phần mộ gia tộc để khi các thế hệ con cháu có dịp về quê hương chúng nó thắp nén nhang cho mình và luôn cho ông bà tổ tiên trong khuôn viên gia tộc. Đó cũng là cái lý đề chúng về…về thăm mộ ba má ông bà”. Tôi cho ý kiến nầy là đúng nhất (với tôi) và được sự đồng tình của một số em tôi. Chúng tôi lo chỉnh trang lại khu mộ gia tộc và chọn cho mình cách về nầy. Tôi làm bài thơ sau đây như là một lời nhắn chung cuộc của đời tôi.

Lời nhắn của người cha già

Một mai đây ba trở thành lú lẫn
Tay chân run không đi đứng vững vàng
Lùa miếng ăn rơi rớt đổ trên bàn
Nhai trệu trạo răng chiếc còn chiếc mất
Càng về già người hóa thành trẻ nít
Ba vụng về trong mọi chuyện con ơi!
Lúc còn nhỏ con cũng như vậy thôi
Ba đút mớm cho con từng chén bột
Con phá phách bột trây đầy mặt đất
Ba xoắn tay thu dọn những đớm rơi
Ba dìu con đi bước một bước hai
Con trợt té ba xuýt xoa đỡ lấy
Một vết đỏ làm má con giận lẫy
Trách sao ba vô ý làm con đau
Mới một tuổi con có đứa em sau
Nên mỗi tối ba nằm kề con ngủ
Rồi từ đó quen hơi ba ấp ủ
Vắng ba…con đòi má gọi ba về…
Một thoáng đời…qua nhiều nỗi nhiêu khê
Nay ba sắp trở thành người bất khiển
Cho dù thế nào trong cơn thay chuyển
Hãy cho ba kề cận ở gần con
Ở xứ nầy cứ theo lệ bàng quan
Cứ bỏ mặc người già nơi viện lão
Ở nơi đó bốn bức tường vôi mờ ảo
Vắng bóng người và tiếng của người thân
Vắng tiếng trẻ thơ và hơi ấm ân cần
Ba sẽ chết với cơn buồn ray rứt
Óc lú lẫn nhưng có khi chợt thức
Tai vẳng nghe hồn nhớ chuyện năm xưa
Hãy để ba nằm lặng lẽ góc nhà
Cho hạnh phúc chảy vào hồn già cỗi….
Rồi một ngày hơi thở ba tắt vội.
Hỏa táng ba đem chút nắm tro về
Có dịp nào con trở lại đất quê
Chôn hỏa cốt bên mộ phần gia tộc
Hồn ba sẽ thỏa tình mơ ước
Về đất xưa quyện hương khói làng xưa

        Khi già yếu bệnh hoạn thì sao? Vợ tôi nói “phải đi Nursing home vì ở đó có y tá túc trực chăm sóc. Ông nằm ở nhà ai lo. Con cái bận đi làm
chúng nó làm sao lo cho kham”. Bà xã tôi bắt kịp tiến bộ quá! Tôi thì cứ muốn nấn ná ở ngôi nhà mình đã tạo dựng…cho dù một góc nhỏ để hưởng cái ấm áp-hơi hướm của gia đình. Tôi nghe nhiều câu chuyện Home mà buồn khi nghĩ nếu là mình….? Muốn là muốn nhưng nếu tình thế không thể thì làm sao? Đó là nỗi buồn của riêng tôi. Nhưng cái ý đem tro cốt về quê vẫn là cái ý nhất định như đinh đóng cột. Nắm tro có về quê hương cũ… thì không còn gì để bận bịu với cuộc sống dương gian!
        Đêm thanh vắng trên khung giường một mình. Tôi chợt nghe ngoài trời gió lùa vi vút trên các nhánh cây trơ cành mùa đông. Năm nay trời lạnh nhiều hơn mọi năm. Tôi bật ho khan mấy tiếng. Cái ngổn ngang trong hồn đang triền miên tuôn chảy bỗng dừng lại. Tôi nhủ thầm rằng: “Hãy dỗ giấc ngủ đi ta ơi! Ngày mai còn đi làm….”. Cho dù ở đâu-Thế nào “Cơm áo vẫn là sợi dây kéo ta bật dậy mà đi…!

                                            ( Cali  năm 2014)

No comments:

Post a Comment

NHỮNG ĐOẢN VĂN

BÓNG NHỚ

Anh Hai thường than thở: “Sao cứ mỗi khi Tết về là nhớ nhà quá chừng. Nhà ở đây là chốn quê hương ở Việt Nam. Một nơi mà anh Hai đã bỏ đi gần hơn 40 năm rồi. Hồi đó thời gian sao mà nó dài quá chừng. Năm năm học trường Quận. Năm năm lên trường Tỉnh. Mấy năm trên Sài Gòn. Anh thấy sao mà nhiều kỷ niệm quá…hình như đầy ấp theo những ngày tháng đó. Anh nhớ bạn bè, anh nhớ mái trường, lớp học. Anh nhớ từng con phố, ngỏ hẻm. Anh nhớ biết bao nhiêu chiều thứ Bảy, Chúa Nhật dạo phố Sài Gòn. Anh nhớ hương vị bò bía, nước mía Viển Đông…Anh nhớ chiều công viên ghế đá với tiếng thầm thì của người yêu… Anh nhớ từng cánh đồng và những con sông. Anh nhớ từng ngọn cỏ, cọng rau. Anh thèm những món ăn rất đạm bạc như cá kho tộ, tô canh chua tép với rau nhiếp, mò om. Anh nhớ tô bún nước lèo ngoài đầu chợ Tỉnh. Anh nhớ trái ổi, trái bần ở dưới quê…Anh nhớ từng khuôn mặt trong mái ấm gia đình…Anh nhớ đủ thứ hết. Mỗi lần nhớ là hình bóng những thứ đó cứ lởn vởn trong đầu óc, anh muốn bay về Việt Nam cho thật nhanh…

Rồi một lần anh Hai có dịp về lại Việt Nam. Máy bay quần một vòng từ độ thấp. Anh ngó Sài Gòn ở phía dưới, xe cộ chạy như những đàn kiến bò trên đường. Những ngôi nhà cao, thấp xen lẩn trong ánh nắng ban mai hồng hào. Chiếc máy bay đáp lướt trên đường băng. Anh nhìn bên ngoài còn những dãy rào thép gai và những hầm hố công sự của một thời chiến tranh vẫn còn đó. Bước ra khỏi cánh cửa máy bay.Trời nóng hừng hực. Anh bắt đầu lột áo bớt ra…cho đến khi chỉ còn cái áo ngắn tay mà sao vẫn còn thấy nóng oi cả người. Qua các cửa ải, anh bắt gặp nhiều gương mặt nhìn anh không mấy gì thân thiện. Gặp lại người thân. Anh có được mấy cái ôm thân thiết và nụ cười đầy nước mắt của những người nhà làm anh thấy ấm áp và xúc động vô cùng!

Chiếc xe 12 chổ ngồi mà người nhà mướn từ dưới tỉnh lên rước anh về, chạy trên đường như dồn đống xe hơi, xe gắn máy, cùng khói bụi mịt mù. Anh nghĩ “Chắc như vầy thì làm sao mà anh dám lái xe một mình đi trên các con đường nầy”. Đi qua các đường phố, anh cố nhìn cho kỷ, nhưng chẵng biết đâu là các con phố quen ngày xưa. Anh cứ hỏi hết đường nầy đến đường khác. Thằng em của anh

chỉ trỏ và nhắc các tên đường…nhưng anh không còn thấy bóng dáng nào của những con đường thân quen thuở xưa…

Về tới quê, nơi căn nhà của ba má anh thuở xưa thì vẫn còn nguyên như cũ, mọi thứ có hơi thay đổi đôi chút nhưng tuyệt nhiên nếu nhấm mắt lại anh cũng sẽ đi từ trước ra tới sau bếp…đều nầy làm anh xúc động đến rưng rưng hai giọt nước mắt…

Đứa em dâu nấu buổi cơm với mấy món mà thiếm biết anh rất thích thuở hơn 40 năm trước. Cơm nóng, canh nóng cộng với cái nóng của căn nhà. Anh vừa ăn vừa lau mồ hôi. Đứa em trai hỏi: Uống chút rượu nghe anh …Anh lắc đầu nói: Nóng thấy mồ uống gì zdô…

Suốt hơn gần 3 tuần lể trôi qua, anh Hai có dịp đi đây đi đó. Ở mọi nơi chốn đều đổi thay, không còn như anh tưởng. Anh ăn uống nhiều thứ…nhưng… thấy sao mà không ngon như lúc trước. Cả tô bún nước lèo thịt heo quay mà anh thích nhất cũng vậy…Anh nghĩ chắc tại ở bểnh mình ăn đầy đủ quá rồi đâm ngán …?

Ra Giêng, vào ngày đám giổ ba của anh. Bà con nội ngoại, chòm xóm tới nhà nhộn nhịp. Các bà mỗi người một việc cùng xắng tay nấu nướng ở sau nhà bếp. Cái không khí nồng ấm và hình bóng xưa cứ chạy suốt trong tâm tưởng. Anh hai ngồi nhớ một hồi rất lâu…Anh lấy tay quẹt nước mắt…

Ngày trở lại Mỹ. Chiếc máy bay đáp xuống phi trường. Anh ra khỏi khoang máy bay, bước vào nhà ga với không khí mát rượi. Anh Mỹ đen rà cái pass board xong, ngước lên mỉm cười và nói: Well come back USA…

Chiếc xe hơi thân quen của đứa con ra rước anh chạy trên xa lộ. Anh cảm thấy thoải mái và an toàn vô cùng. Anh Hai hơi đói bụng.Thằng con chở anh đến quán phở quen. Anh ăn ngon lành tô phở gần như cạn nước…

Đêm mới về lại căn nhà ở bên nầy, anh bị mất ngủ vì trái giờ, quen giấc gần hơn cả tháng ở Việt Nam. Anh nằm gát tay lên trán mơ màng…Anh chợt thấy một điều gì đó… hình như là …BÓNG NHỚ vừa hiện ra trong tâm hồn mình…!

H ÌNH NH Ư

Trong thời chiến tranh, anh luôn đối diện với biết bao hiễm nguy của chiến trường. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu đồng đội ngã xuống, biết bao nhiêu đối phương phơi xác trong các hố hầm, biết bao người dân chết oan uổn giữa hai lằn đạn. Anh đã mất đi cái thăng bằng trong cách sống. Anh thiếu vắng thời gian để có cái dịu dàng ấu yếm trong tình yêu, trừ một mối tình trong tuổi còn học trò. Bây giờ anh sống vội vả với những ngày nghĩ phép hoặc những buổi không đi hành quân. Tình yêu tinh khiết dường như không còn ở lại với anh. Anh đến với những cuộc gặp gở bất ngờ. Anh vồ dập với những cơn luyến ái trong hơi men. Lời nói yêu đương chỉ là cái lý giải để anh chiếm đoạt người tình hơn là là sự rung động thật sự của con tim. Từ đó anh vô tình đã để lại bao nhiêu hậu quả cho những người con gái đến với anh: “Nước mắt, sự đau khổ, có cả những hệ lụy trong tai nạn ái ân vội vã đó.” Chiến tranh đã đẩy cuộc đời trai trẻ của anh vào cơn lốc xoấy của cơn lửa táp, đạn vèo. Anh như bị đánh mất bản chất con người của anh trong cơn biến động đó.

Đến một lúc rồi anh cũng phải có vợ. Cưới vợ như là một định kiến của gia đình, thân tộc và định vị lứa đôi của cuộc sống đời thường.

Thời gian trôi nhanh…Anh nhìn về phía trước một đoạn đường lấp ló buổi chiều tàn. Đôi lúc anh quay đầu nhìn về quá khứ. Một thời gian dài hơn 40 làm vợ chồng đã trôi qua trong bao gian truân khốn khó...Bây giờ hai người đã già, không còn đi làm nữa. Con cái đã có gia đình và có cơ ngơi ổn định. Hai bóng già lặng lẻ sống bên nhau trong gia đình càng lúc càng tróng vắng…. Không biết có phải vì biến thái của tuổi già hay vì tính khí khác biệt của mỗi người mà sự va chạm thường xuyên có dịp khoấy lên..? Có một cái lực vô hình nào đó đẩy mỗi người mỗi ngày một xa. Cái xa không phải là khoảng cách mà xa trong tình cảm …? Suốt hơn 2 năm vợ chồng sống chung nhà, nhưng mỗi người mỗi phòng riêng.Sự gìao tiếp với nhau bề ngoài cũng rất bình thường vì bổn phận làm cha, làm mẹ với những đứa con, làm ông bà với những đứa cháu và vì sự giao tế bạn bè thân thích. Nói tóm lại, mỗi người ráng đóng vai trò cho thích hợp với mọi hoàn cảnh. Đến một ngày vợ anh bệnh nặng và tách hẳn về nhà đứa con gái để tiện viêc chăm sóc, thì sự xa cách bị đẩy xa thêm.Thỉnh thoảng anh về bên nhà con gái để giúp đưa vợ đi nhà thương hoặc làm một vài cử chỉ nặng về phần an ủi nghĩa tình, dù sao 2 người cũng có mấy chục năm chăn gối.

Mấy năm liền anh sống trong căn phòng đơn chiếc với những sinh hoạt tự túc châm lo cho mình và thằng con út còn đi học. Thời giờ còn lại, anh tìm quên trên bàn máy vi tính với những bạn ảo trên Net và trên Facebook. Những bài thơ, những bài văn lúc nầy được trải ra nhiều hơn. Khoảng lấp nầy cũng chỉ giới hạn chừng mực nào đó…còn lại nỗi cô đơn của tuổi xế chiều đang còn sức luyến ái, đôi lúc bậc dậy trong anh những cơn thèm khát xác thịt. Anh cũng chỉ dằn lòng lại thôi…

Nhiều lúc ngồi một mình, anh nhìn lên khoảng trời mịt mù sương khói, cánh chim nào đó bay trong trời giá lạnh, về một hướng rất xa xăm…. Quỷ thời gian của đời sống không còn bao nhiêu nữa là hết. Anh chợt thấy buồn buồn cho cuộc đời mình…Anh như cánh chim kia cứ bay đi thầm lặng đến cuối chân trời.Trong một khoảng riêng buồn…anh thấy có một nỗi hụt hẩn rất lớn trong tâm hồn… hình như tình yêu thực sự đã mất trong anh tự bao giờ…!?

CUỐI NĂM XỨ NGƯỜI

Do hiện tượng thời tiết, cả gần hơn tháng nay trời cứ mưa liên tục. Mưa không lớn. Mưa rỉ rả. Gió lạnh lùa ngang cây trơ cành bên ngoài. Bầu trời một màu xám mờ. Trời không băng giá, nhưng những cây loại nhiệt đới được đặt bên trong mái hiên nhà sau thì ủ rủ gần như trân mình, bầm lá, mặc dù được che bởi những mảnh nilong.

Buổi sáng ngồi uống cà phê, nhìn cây mai tứ quí nhú mầm nụ hoa. Tháng cuối năm âm lịch sắp hết. Ừ cuối năm rồi! Cuối năm của một khoảng đời gần hết. Cuối năm chập choạng với những ngày lặng lẻ. Cuối năm với cơn mưa lạnh nơi xứ người. Cuối năm tôi co ro như những cành cây nhiệt đới. Cuối năm chẵng có niềm vui nào trổi dậy trong hồn. Cuối năm lẩn thẩn với mớ nghĩ suy quanh quẩn rồi than thở một mình. Cuối năm xứ người sao buồn quá…!

LẨN THẨN 30

Vợ tôi nói: Năm nay tháng 12 thiếu, không có ngày 30 đâu nghe ông! Có đi đâu chơi nhớ về nhà để cúng cơm mời tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào buổi trưa … Em chuẩn bị mâm ngủ quả để cúng mừng vui năm mới. Anh nhớ mua phong pháo đốt lúc Giao Thừa để xóa đẩy hết những đều không tốt của năm cũ. Nhớ là ngày 29 đó nghe! Tôi ừ ừ ...đàn bà có khác…! Cái gì mà phải nhắc nhở ....năm nào cũng vậy mà….! Nhưng tôi chợt nhớ lời bà xã … năm nay không có ngày 30 đó nghe. Ừ…Ừ… không khéo lại quên mất…Tôi thẩn thờ nhớ: Đêm 30 xưa nơi quê nhà trong thời thơ ấu bên mái gia đình êm ấm. Đêm 30 lê bước trên phố khuya với lòng trỉu nặng tình buồn. Đêm 30 nơi trại lính trong thời chiến tranh với rượu nát tàn canh. Đêm 30 nơi “Trại Cải Tạo” sau ngày 30 tháng Tư với nỗi buồn cho một ngày mai vô định! Đêm 30 nơi đất khách với cảm giác buồn nhớ quê hương. Một nửa cuộc đời nơi quê nhà với bao thăng trằm cay đắng. Một nửa cuộc đời bình lặng nơi đất khách quê người với bao nỗi trằn trọc, thao thức về đất nước quê nhàThoáng chốc đã hơn 70 năm làm người!

Năm nay đón Giao Thừa nhầm ngày 29…Tôi chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó…vì không có ngày 30 “Em đến thăm anh đêm 30…còn đêm nào buồn hơn đêm 30…Anh nói với người phu quét đường…Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”.

SAU NGÀY 30 THÁNG TƯ

Tôi có người anh bà con, ba anh đi kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông hy sinh lúc Hiệp định Geneve vừa ký xong…1954 anh bị đưa ra Bắc lúc anh mới 12 tuổi. Anh thực sự nghĩ cái chết của ba anh bởi lòng yêu nước c ũng nh ư bao nhi êu ng ư ời tham gia kh áng chi ến th ời đ ó. Mấy chục năm ra Bắc, anh bị nhồi nhét lý tưởng Cộng Sản. Họ chèn ép nhân dân và thanh niên miền Bắc vào khung hận thù miền Nam và Đế Quốc Mỹ.Thật sự chủ nghĩa Tự Do của miền Nam và Đế Quốc Mỹ anh chưa bao giờ biết rỏ. Anh bị bưng bít sự thật và chỉ biết qua tuyên truyền là nhân dân miền Nam sống trong áp bức, đói rách, bần cùng…

Tôi được 11 tuổi, sống và lớn lên trong miền Nam. Tôi được đào tạo trong cái nôi Tự Do - Dân Chủ.Thực sự tôi không biết cái giá trị nầy ở mức độ cần thiết là bao nhiêu.Từ lúc nhỏ tôi nghe tuyên truyền chủ nghĩa Công sản là tam vô, là đôc ác, là bần cùng hóa nhân dân.Thực sự tôi không hiểu cái mức độ độc ác của Cộng sản là tới mức nào. Tôi rất mơ hồ khi ngồi trên băng ghế nhà trường, khi vào quân ngũ, cả khi buông súng đầu hàng khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, Tư lệnh tối cao của quân đội hạ lệnh đầu hàng. Tôi và bạn bè đồng ngũ chỉ tức tối vì nghĩ rằng mình đâu dể bị thua bộ đội miền Bắc! Và thêm nữa…Cả miền Nam chắc cũng ngớ như tôi (Chỉ những người Bắc di cư 1954 là hiểu về Cộng Sản qua các cuộc đấu tố và cải cách ruộng đất lúc đó…)

Sau 30 tháng Tư năm 1975 người anh từ miền Bắc về Nam.Việc đầu tiên là anh quá ngỡ ngàn trước một Sài Gòn diểm lệ. Việc thứ hai là căn nhà của má anh là một căn nhà gạch mà anh phải thốt lên: Căn nhà thế nầy phải là cấp bộ Trưởng mới có được…rồi ngày tháng năm kế tiếp…tất cả đã làm anh từ băn khoăn và rồi đến lúc nói với tôi: Bọn mầy để miền Nam bị mất thật uổn…Bây giờ làm sao lấy lại được…?!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Dương Thu Hương ngồi bên lề đường úp mặt khóc vì một Sài Gòn phồn thịnh mà bị mất vào tay ‘Ăn Cướp”…

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 hàng hóa,vật liệu, lúa gạo miền Nam chở ra tiếp tế cho miền Bắc. Thanh niên nam nữ miền Bắc mơ vào Sài Gòn như mơ đi nước ngoài …

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhóm chóp bu lảnh đạo chia nhau làm giàu. Một loại Tư Bản Đỏ mà trong nước gọi là Nhóm Quyền Lợi...sắp bán đứng quê hương cho Tàu….!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 người dân cả nước mất hết Tự Do-Dân Chủ-Nhân quyền…!

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975…mới đây nhất một nhà sữ học nổi tiếng trong nước nói đại ý như vầy: “Chế độ Cộng Sản là không tưởng…có đâu mà tiến tới”

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975: AI THẮNG AI….?

Sau gần mấy mươi năm anh em có dịp gặp lại. Anh nói với tôi: “Tao đã bị lừa mấy chục năm khi còn ở ngoài Bắc. Tao bị phản bội sau ngày 30 tháng Tư chính những đồng chí của tao…!.Tôi nói với anh: “Trước đây tôi cầm súng chống Cộng Sản mà chưa biết Cộng Sản thế nào...! Sau ngày 30 tháng Tư, tôi còn mơ hồ về họ..! Lúc tôi biết họ là ai thì đã muộn…Tôi đã bị đánh mât quê hương và bị sống xa tổ quốc…!

Tôi và anh ai buồn hơn ai?


Hoa ơi! Đừng kết trái

Khi mới dọn nhà về, phía sau là một khoảng đất trống.Vợ chồng chúng tôi phát họa một sân sau với vườn rau, cây trái.Vài năm sau, phía sau nhà có vườn rau và cây ăn trái, căn bản là các loại rau ăn hằng ngày: Rau râm, rau húng cây, rau húng lủi, rau dấp cá….Cây ăn trái như chanh, quit, cam, hồng, táo…Thấy đất còn trống chổ nào là tôi tha cây về trồng thêm.Vợ tôi cằn nhằn: “Ông trồng nhiều cây ăn trái, ráng thu dọn lá và mấy trái cây rớt…em lo không kham đâu a..?”. Nói là nói vậy nhưng tới mùa , cây nở hoa, kết trái thì vợ chồng tôi ra vườn sau đi nhìn từng nhánh, từng đóa hoa, chờ cho tới ngày cây đơm trái…nhìn những đọt rau thơm. Chúng tôi hái từng loại trái cây cùng ăn, cùng khen ngon ngọt…Chúng tôi có những cọng rau thơm cho một buổi cả nhà ăn bánh xèo…

Cách đây mấy tuần vợ tôi trở bịnh, lúc tôi còn ở Việt Nam và sắp tới ngày trở về.Tôi biết căn bịnh của vợ tôi trở lại lần nầy khá nghiêm trọng. Tuy nhiên chỉ còn đôi ba ngày nữa, tôi e khó đổi vé bay, nên nán lại…Chỉ việc nầy thôi làm vợ tôi giận hờn và trách cứ…!

Bây giờ vợ tôi phải điều trị lại và phải có sự châm sóc đặc biệt. Con gái tôi nói: “Thôi! Để má về ở với con, con sẽ xin nghĩ vài tháng để lo săn sóc và nấu ăn cho má. Nhà con thích hợp hơn. Khi má khoẻ lại sẽ về nhà ba…”

Mấy mươi năm chung sống. Mấy mươi năm gầy dựng gia đình, nuôi dạy con cái thành người lớn khôn và thành đạt nơi xứ người. Cho dù đời sống chung đụng vợ chồng sao tránh khỏi va chạm, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua…Cái nghĩa tình mấy chục năm gắn bó, làm sao mà dể bức rời.! Đến tuổi hưu, đáng lẻ chúng tôi cùng sống khoẻ mạnh bên nhau để hưởng những ngày còn lại của cuộc đời, cùng chia sẻ vui buồn trong cái quỷ thời gian còn lại không bao nhiêu. Cơn bịnh lần nầy sẽ làm sự sống của vợ tôi đau đớn và bất ổn…Sự kiện nầy làm tôi tan nát cõi lòng và ân hận.

Hôm nay ra vườn sau. Trời vào Xuân đã lâu. Các loại rau nức đất, trổi mình sau mùa lạnh giá, các loại cây ăn trái với chồi non xanh, hoa kết nụ…. Cây cam, cây quít, cây táo… hoa rụng cánh sắp kết trái. …Tôi đi thơ thẩn trong nỗi buồn buồn ray rức. Nhìn lên các cành cây, tôi nói thầm: Hoa ơi! đừng kết trái, năm nầy vắng người vợ thương yêu…Mùa nầy đâu có ai cùng chia sớt niềm vui…!!!

Mùa nầy hoa nở…thôi thành trái

Lòng ta rụng nát những niềm đau

Em ơi! vườn vắng em rồi đó

Hoa trái mùa nầy…Thôi tàn mau!

Cảm giác bềnh bồng

Mùa Đông đến. Khi tôi ngồi uống tách cà phê sáng ngoài hiên sau nhà, nhìn bầu trời như thấp xuống với những đám mây phù thủy vạn hình không rỏ nét. Những cành cây khô trong mù sương đứng trơ trơ, trân mình trong cơn lạnh. Tôi mường tượng một điều gì đó rất xa xăm. Tôi hơi hụt hẩn trong mỗi lần mò về quá khứ.

Bên nhà hàng xóm có tiếng vọng âm thanh của bài hát “Bài Thánh Ca Vô Cùng”. Tôi chợt nghĩ “Mùa Noel” sắp về…Và nhớ về mùa Noel năm xưa…

Trước đây còn đi làm ở một cửa hàng bách hóa. Cứ gần đến Noel là họ mắc dây đèn, trưng bày cây Noel và hàng hóa cho mùa lể gần cả tháng trước. Các món hàng được hứa hẹn là on sale trong ngày 24 tháng 12 và sau ngày 25 tháng 12. Ngày Lể coi như hiện diện ở tôi với chiếc mũ đỏ của ông già Noel để làm dậy lên cái không khí mua bán nhộn nhịp của cái thương hiệu Super Walmart.Từ ngày nghĩ việc về hưu, tôi chỉ lặng lẻ nơi căn nhà, ít muốn giao lưu với ai. Mỗi sáng ngồi uống café một mình. Mỗi ngày lên máy computer để xem tin tức, lướt qua Facebook và viết một vài câu thơ hoặc viết tiếp cái truyện còn dang dở.

Mỗi ngày tôi bềnh bồng với những mớ hoài ức khi nhìn ra ngoài trời mây. Mây cũng bềnh bồng theo từng ý nghĩ chập chùn gợi nhớ...

Khi ngồi trước khung máy. Tôi bềnh bồng với hình ảnh, chữ nghĩa. Tôi bềnh bồng với những nghĩ suy. Tôi theo với những dòng chữ. Tôi theo với ngón tay đưa đẩy con mouse. Tôi theo với cái kéo mủi tên lấp thêm mớ chữ vào bài viết. Ở đó là quá khứ. Ở đó, là hình ảnh của một thời rất xa xưa. Ở đó, là từng chập mây khói bay qua trong cảm giác và hiện rỏ qua dòng chữ. Có khi tôi chợt khóc. Có khi tôi chợt vui. Có khi tôi xao xuyến. Có khi tôi rạo rực. Có khi tôi ngộp thở...Tôi miên mang với từng ngón tay trên phím chữ. Ký ức dội về trong “Dòng Trôi Cuộc Đời”…Bản thảo viết về cuộc đời của tôi.

Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ ngưng tay. Rồi đây. Có một ngày, tôi sẽ hết còn suy nghĩ.Tôi thả thân nằm xuống, xuôi bỏ cuộc đời..! Lúc nầy hồn tôi sẽ bềnh bồng vào cõi hư vô. Hiện tại và quá khứ sẽ chỉ còn ở lại với những dòng chữ bềnh bồng…Không biết có đáng giá gì không? Nhưng ít ra tôi biết, tôi đã làm một điều mà tôi rất thích.Chỉ có vậy thôi…!

LÀM NGƯỜI CHÂN CHÍNH

Viết tặng nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Tôi vốn người gốc miền Tây Nam Bộ,…Thuở nhỏ tôi mê văn Hồ Biểu Chánh, tôi khoái văn vẻ của ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, sau nầy là Hồ Trường An. Tôi thích cái mộc mạc của người miền Nam, đặc sệt những âm điệu dân dã qua các câu chuyện. Sau nầy khi lớn lên, tôi đọc nhiều tác phẫm của các nhà văn khắp xứ của miền Nam trước năm 1975. Nhưng cái cảm giác ăn sâu vào tâm não vẫn là những tác giã mà tôi thích như nói ở trên. Khi ra nước ngoài tôi mang theo một số tác phẫm còn ít oi sót lại trên kệ sách để ở nhà của ba má ở dưới quê, những trang sách với những chữ in bằng khung in chì trên những trang giấy in đã biến thành úa vàng…Tôi trân quí các quyển sách đó và lâu lâu đem ra đọc…Lúc đọc, tôi bắt nhớ nhiều thứ vụn vặt vào cái thời thanh niên mới lớn của mình, như khi ra nhà sách Khai Trí, đi chộn rộn vào những chiều thứ Bảy qua những kệ sách bên dưới cho tới tần lầu phía trên….Thời gian đó tôi tập sự viết văn, thay vì làm thơ như mọi khi…Tôi muốn viết theo phong cách của những nhà văn mà tôi thích. Tôi viết đâu đó vài cái truyện ngắn…Tôi đọc đi đọc lại thấy kỳ kỳ, rồi xé bỏ vì muốn bắt chước mà không được…văn nó phát ra từ nguồn cảm hứng và thể hiện bản chất tự nhiên của người đó, bắt chước làm gì, mà có được cái giãi gì đâu…?Nghĩ vậy tôi bỏ viết truyện luôn. Sau nầy tôi có viết lại nhưng là từ cách viết nhật ký, rồi quen dần viết truyện ngắn qua cách thể hiện như viết nhật ký…viết từ cuộc sống của tôi và tôi vui vẻ ở lại với dòng viết nầy…

Khi qua Mỹ, vì bận bịu với công ăn việc làm, tôi đã bỏ hết thú đọc sách và bỏ luôn chữ nghĩa. Tôi chỉ đọc thoáng qua mấy tờ báo biếu về tin tức và vài mẫu chuyện cũ in lại. Cho đến một hôm ra nhà sách, tôi cầm lên một quyển sách mỏng với tựa là “Cánh Đồng Bất Tận”. Anh chủ quán ngó về phía anh và nói:Anh mua quyển nầy về đọc đi, anh bạn của tôi mới về Việt Nam mang qua vài cuốn cho tôi bán thử.Vốn là người không ưa mấy quyển sách của các tác giả viết sau năm 1975 vì đa số viết theo chánh sách và chỉ đạo của nhà nước. Tôi tò mò lật đọc vài trang…Tôi lại đọc tiếp, một sự thu hút quá nhanh đến với tôi qua những dòng chữ đặc sệt miền Nam.Tôi ngưng đọc và thầm nghĩ phải mua quyển sách nầy về nhà đọc mới tận hưởng hết những cảm giác mà từ lâu rồi tôi mới bắt lại được…Từ đó tôi đâm mê giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư và viết thư về cho đứa cháu ở Sài Gòn tìm mua các quyển sách mà Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gời qua bên nầy để đọc. Thời gian sau nầy khi bắt trớn viết lại, tôi hay làm thơ, viết văn và giao lưu trên Net…Cách đây hơn 2 năm, tôi bắt gặp Nguyễn Ngọc Tư trên Face Book và mò tìm thấy Bloggs của cô. Tôi liên kết vào trang Bloggs của Tư và từ đó tôi đọc bài viết của Tư trên Net. Biết cô còn trẻ, sinh sau năm 1975, tôi càng ái mộ cô về cách thể hiện tâm trạng của cô qua các bài viết ngắn, rất đổi đời thường, nhưng phản ảnh được cái xã hội của miền Nam sau năm 1975, nhất là các đề tài quanh quẩn nơi cô sinh sống, đất Cà Mau…Nơi chốn, sau 1975 tôi là một người tù”Cải Tạo”. Đầm mình trong những tháng ngày nơi vùng đất U Minh “Muổi kêu như sáo thổi-Đỉa lềnh như bánh canh”.Thời gian nầy tôi tiếp xúc được với người dân U Minh.Ban đầu họ còn xa cách và hận thù với những người của chế độc cũ, dần dà họ thân thiết và thật sự có cái nhìn khác về những người lính VNCH.Có một dịp ghé nhà một người dân., tôi thấy một em bé cở hơn 10 tuổi, ngồi cậm cuôi viết chữ I,T, một em lớn hơn chắc là chị của bé đang ngồi trả lời vài câu hỏi trong bài văn.Tôi thấy thương cho các em, tới tuổi nầy mới được cấp sách đến trường. Thấy tôi nhìn vào trang sách, em nói:Chú ơi! dùm góp ý với cháu để trả lời câu hỏi nầy “ Trong thời chiến tranh, một anh du kích giết được 4 tên lính ngụy, một anh khác giết thêm 5 tên lính ngụy…câu hỏi:Vậy ta đã giết tổng cộng được là bao nhiêu tên lính ngụy”.Tôi đọc câu hởi với sự khó chịu trong lòng mà không nói gì cả.Tôi buồn buồn cho một thế hệ con trẻ với cái lối dạy dổ lòng câm thù và nuôi lòng câm thù của nhà cầm quyền mới cho các cháu mà thực sự các cháu không biết.Thấy tôi ngần ngừ, mẹ của cháu nói:Mầy ráng làm đi đừng hỏi chú ấy…!

Thời gian trôi qua, bây giờ tôi đọc Nguyễn Ngọc Tư trên Net, tôi chợt nhớ về chuyện cũ, vào thời đó chắc cô cũng chỉ vài tuổi và cũng từng học như vậy khi đến tuổi đi học…Bây giờ cô lớn lên, cô thực sự thấy bao điều của vùng đất cô ở, những thay đổi quá ngao ngán của một xã hội “Ưu Việt”mà sản sinh ra những con người quá dã man, những con người cho là vĩ đại mà rất đốn hèn…Những bài viết của cô làm tôi say mê đọc. Với một gốc nhìn không quá bi quan về những mầm non trổi lên mạnh mẻ trong bùn đất, bật lớn tươi tắn dưới ánh mặt trời chân lý, làm một con người chân chính trong một xã hội đầy dẩy bất lương.


MÙI TẾT

Hồi còn nhỏ, ở quê nhà…Lúc đó tôi cỡ hơn 10 tuổi.Mỗi năm cứ vào gần hết tháng 12, gió từ cánh đồng phía tuốt ngoài ruộng, sau nhà thờ Tin Lành thổi về với mùi rơm rạ còn mới.Mùa lúa vừa gặt xong còn trơ những gốc rạ và những vũng nước bùn.Cái mùi nồng nồng, hăng hắt đưa vào hai cánh mũi của tôi.…Gió từ bờ sông phía bên kia nhà lồng chợ, cũng đưa thêm về cái man mát gay gây. Những cơn gió cuối năm đôi khi thốc mạnh làm cuộn lên những dề cát cuốn ụp vào người, tôi bụm hai tay che mắt. Lúc đó, tôi nôn nao trong lòng vì biết rằng Tết sắp về…Ba má sẽ sắm cho tôi bộ đồ mới.Tôi sẽ có một mớ tiền lì xì từ ba má và bà con thân thuộc…

Bọn trẻ con chúng tôi thì mừng rở, còn người lớn thì cứ than thở : “Mới đó mà Tết tới nữa rồi…!”. Người lớn thi tất bật gồng gánh, buôn bán quanh năm…công việc cứ bề bề ra, lo chưa xong thì Tết lại đến. Bọn con nít như chúng tôi thì lại mong Tết về…đâu biết gì mà lo…

Gần sát ngày Tết, mặc dù vẫn còn bận rộn với công việc buôn bán, má tôi cũng dành thời gian lo ngâm gạo, ngâm nếp, phơi lá chuối để gói bánh ích, bánh tét. Chưng xong bánh tét, bánh ít đem treo trên giàn, thì đến lo đánh bột làm bánh bông lan…

Lúc còn nhỏ, tôi thường quanh quẩn bên má để giúp má hoặc để má sai vặt. Là đứa con trai lớn trong nhà, tôi thấy má làm một mình cực quá nên không nở bỏ đi bắn cu li với bạn bè mà ở nhà phụ một tay với má. Nồi bánh Tét xôi ùn ục…má kêu tôi thêm củi, tôi đút từng thanh củi vào lò. Má mở nấp nồi thăm chừng. Khói bốc lên nhiều, má nghiêng đầu tránh hơi nước nóng, lấy cây đủa dài xốc trở. Mùi lá chuối xông lên nghe thơm phức. Gần ngày Tết hơn nữa, má cân bột, đếm trứng để làm bánh bông lan, thì tôi phụ đánh trứng, đánh bột. Công việc phụ trợ của tôi được má thưởng cho ăn mấy cái bánh thử nóng hổi hoặc mấy cái bánh bông lan quá lửa, hơi đen đen nhưng thơm phức mùi vanila.

Ba bớt đi giao hàng vì cận Tết, ngồi tính sổ sách cuối năm. Hai bên trước cửa nhà, ba đặt hai chậu bông cúc nở vàng.Trên bàn thờ thì ba chưng bông vạn thọ. Cả nhà tôi thơm mùi bánh, mùi hoa, mùi nhang.

Người lớn ai ai cũng xem ra bề bộn lo lắng, còn bọn trẻ chúng tôi thì thấp thõm đợi ngày 30 Tết được tắm rửa sớm hơn mọi ngày và được ba má để sẳn bộ đồ mới cho ngày mai mặc đi chơi.

Đêm 30 má lo sẳn một dĩa trái cây “Cầu, Dừa, Đủ, xoài(Xài)”và một bình cấm bông vạn thọ. Đúng 12 giờ khuya, phía bên nhà thờ Tin Lành giựt chuông tinh toong. Ngôi chùa Phật phía bên sông đánh trống, bổ chuông in ỏi. Má lâm râm khấn vái trước bàn thờ đặt trước sân. Ba đốt dây pháo đỏ treo trên nhánh cây trước nhà, châm ngòi nổ đì đùng…Cả xóm chợ đâu đâu cũng đì đùn tiếng pháo.Tụi con nít chạy hết nhà nầy qua nhà khác lượm pháo lép hoặc chưa nổ kip bỏ vào túi áo…Có đứa vô ý bỏ vô cái pháo còn đang cháy ngòi, pháo nổ làm cháy áo, phỏng bụng.

Mùi Tết, mùi nhớ quê hương. Mấy chục năm rồi xa xứ. Khi hết tháng 1 mùa Đông còn đang lạnh, máy sưởi trong nhà chạy suốt đêm ngày. Căn nhà trống hoe.Vợ chồng còn tất bậc với công việc ở hảng xưởng. Con cái thì đi học….Đến cận ngày Tết Ta thì mới chạy ra chợ mua bánh chưng bánh tét và vài chậu bông đem về chưng bàn thờ. Chuẩn bị nấu vài món ăn truyền thống như thịt kho, dưa giá…Mùi vị ngày Tết không còn …chỉ còn là nỗi hoài nhớ…Khi qua đêm trừ tịch, hai vợ chồng ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Đêm 30 đi qua…Ngày mai lại tiếp tục đi làm, con cái đi học. Bàn thờ cúng cơm ông bà chỉ là cái bằng chứng để lại với khói nhang thơm nhẹ…Mấy đứa nhỏ còn cằn nhằn “Ba má đốt nhang nên mở cửa… Tụi nhỏ sợ khói nhang làm ngộp thở và hôi nhà…Kêu tụi nó khấn vái trước bà thờ ông bà thì tụi nó chỉ đốt một cây nhang, chấp tay xá xá cho qua việc. Có khi chúng đi làm, đi học thì chỉ hai vợ chồng dọn bàn cúng lạy…mà cũng chỉ nán lại trước bàn thờ vài phút rồi đi lo công việc khác.

Người lớn thì cố giữ lại truyền thống Tết được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu.Còn tụi nhỏ thì…khó quá! Tôi đâm nghĩ “Khi đám già cuốn gói về đất hết thì chắc tụi nó cũng quên cái vụ Tết nhứt nầy “Thật ra thì tụi nhỏ đâu có cái mùi Tết như mình có hồi từ thuở nhỏ đế mà nhớ…!

HỐI HẢ CUỐI ĐỜI

Trong đời người có biết bao nhiêu lần hối hả. Có những hối hả lo toan, nếu mình chưa hoàn tất với cái mức quy định của công việc hoặc thời gian thì mình có thể làm tiếp sau đó.Tuy nhiên có một sự hối hả mà mình phải hoàn tất, nếu không thì mình sẽ không có cơ hội để hoàn tất. Đó là sự hối hả của những ngày gần cuối cuộc đời. Quỹ thời gian của cuộc sống không còn bao nhiêu.Sự bất chợt rủi ro của tuổi già có khi vô chừng, khó đoán, cho nên sự hối hả như một điều thúc đẩy người tôi cố nghĩ, cố lọc lựa những gì mình cần phải hoàn tất trong khi có thể làm được, còn chừa một khoảng rủi ro nào đó mà thần chết giáng xuống mình bất thình lình.Cái quan trọng mà tôi phải làm trước đó là món nợ văn chương vướng lụy mấy chục năm qua, từ lúc biết làm thơ, viết nhật ký của tuổi 15, cho đến nay tóc đã nghiêng màu trắng. Cuộc bể dâu đã làm cuộc đời tôi nổi trôi thăng trầm. Cùng với thăng trầm đó là những dòng văn, những dòng thơ được trải ra trên giấy năm xưa và trên dòng Net ngày nay.

Tôi muốn nó ở lại đời khi tôi ra đi.Tôi muốn nó ở lại với thân quyến, bạn bè và theo linh hồn tôi về tận miền miên viển nào đó.

Tôi viết vì tôi, vì người thân và bạn bè.Tôi không ham muốn làm nhà văn, nhà thơ.

Tôi là một người muốn trải lòng ra để giải tỏa nỗi lòng cho chính tôi và chia sẻ với những người thương mến tôi bằng chữ nghĩa.Còn lại những thứ khác, nếu tôi chưa làm hết thì có người khác làm thế cho tôi.

Tôi muốn chính tôi phải hoàn tất những dòng chữ mà tôi đã viết, thành từng tập.

Tôi muốn được nhìn thấy nó đã thành hình.

Chỉ duy nhất có điều nầy làm tôi hối hả để hoàn tất trước lúc chia tay với đời sống nầy.

TÌNH NET

Ngày xửa ngày xưa, lúc còn mài đủn quần trong lớp học. Lúc đó khi yêu nhau người ta thường viết thư trao đổi tình yêu qua trang giấy học trò, kha khá hơn nữa là những mảnh giấy màu mõng. Thông thường rất kín đáo trao cho nhau bằng tay chứ ít khi gởi bằng thư từ, vì sợ bị lộ Khi ba má bắt được thư thì có mà bị tẩm quất hay la rầy một trận: “Còn nhỏ mà không lo học hành…ở đó mà yêu…Từ nay phải chấm dứt nghe con….phải lo học hành trước đã…” nghĩa là cha mẹ có quyền cấm con cái đi vào đường yêu đương và dỉ nhiên mấy tờ giấy viết sẽ bị xé nát và cho vào sọt rác. Tình yêu trai gái thuở đó cũng thường chỉ quanh quẩn trong xóm làng, quẩn quanh nơi phố chợ, ít khi xa ngàn dậm…? Với đà phát triển nhanh của khoa học qua các bàn máy vi tính và qua hệ thống Net, sư liên kết của con người vượt xa khoảng cách, vượt biển trời bao la để tìm đến nhau qua E-mail, tin nhắn. Các bậc cha mẹ ngày nay không còn kiểm soát con cái theo cái kiểu ngày xưa nữa, mà có kiểm soát cũng không được, đành phải chấp nhận một cách miển cưởng, bó tay, đành chịu…!

Các trang nối kết như hệ thống của các nhóm trên yahoo.com các trang mạng liên kết như facebook…đã làm mọi người trên khắp thế giới gần nhau hơn, thư từ, tin nhắn, hình ảnh chỉ chuyển trong tích tắt….Từ đó hình thành những mối tình ảo, vượt không gian mà yêu nhau. Sự trao đổi đôi lúc màu mè công chúng (public) sau đó chuyển qua nơi kín đáo hơn bằng Chát (Messenger). Có nhiều mối tình Net đến với nhau dịu dàng trên Net và rồi sau đó hẹn hò gặp mặt nhau, đôi khi hợp ý thì tiến tới hôn nhân thật sự, cũng có những quái quâm vở khóc vở cười khi đối diện với sự thật phủ phàng, hình em, anh trên Net thì quá đẹp…hoặc trí tưởng tượng về người yêu quá toàn vẹn, khi gặp nhau bị vở mộng…Chẳng hạng nàng hoặc chàng đi đứng cà thọt, ăn nói thì ấp a ấp úng ngọng nghệu…Có những mối tình chỉ cốt bẹo kéo nhau để cho qua buổi trng vắng của những ông bà ở tuổi về hưu, có nhiều thời giờ ngồi trước máy vi tính chát để đốt thời gian. Cũng có những cảnh ông bà đang sống ung dung với nhau mà lại ngoại tình trên Net. Ông một cái máy, bà một cái máy mặc tình mà chát yêu, chát quái. Mỗi người tìm thời gian thích hợp mà chát để khỏi bị lụy phiền, để khỏi bị khám phá…!Tân tiến hơn, mỗi người có một cái máy điện thoại thông minh…lúc nầy mặc tình mà liên kết, ở mọi nơi, ở mọi lúc, tha hồ ông chát, bà chát, con chát, rể chát, dâu chát…mọi người đều có cơ hôi ẩn náo riêng tư mà liên kết với nhau.

Tình yêu trên Net lại hình thành nhiều tình huống khác nhau và từ đó nở rộ ra các nhà thơ, nhà văn bất đắc dỉ với những bài thơ, bài văn gạ trao tình yêu vô cùng lãng mạng, đôi khi vô cùng Sến hằng ngày dán lên các trang mạng. Xin mở ngoặt phân ra các bậc đàn anh, các bạn văn, thi sĩ thực thụ dán lên nhiều bài viết rất giá trị để trao đổi với nhau. Nhờ đó tôi hân hạnh gặp được nhiềc bậc đàn anh, đàn chị v à bạn bè mà tôi rất quý mến. Cũng từ trên Net, có nhiền vụ lừa đão tình yêu….phờ phỉnh tình yêu xảy ra…tình ảo mà….có ai kiểm tra được đâu?! Mà thực ra có chết thằng Tây nào đâu với mấy dấu hiệu trái tim gởi cho nhau kèm qua các lời nói âu yếm…sống động hơn là những con vật nhả ra hằng hà sa số trái tim yêu qua ảnh gif. Có mất đồng nào khi gởi những bó hoa hoặc quà cáp trên Net. Ôi thời đại tân tiến! Ôi thời đại tình Net, tình Ảo… Thôi thì cứ phất phơ vào Net để đốt thời gian nhàn hạ. Mua vui cũng được một vài trống canh!Phải không các bạn?


MỘT MÌNH

Từ ngày bà xã tui xách gói đi ngủ riêng tới giờ …tôi cảm thấy mình thoải mái hơn. Chẵng là vì, khi lớn tuổi lúc trở trời trở gió mình mẩy ê ẫm, xương cốt hết đau khớp nầy, chạy qua khớp khác. Đêm ngủ chung giường với bà xã nhiều khi lấy tay đấm chồ nầy, bóp chổ khác trên cơ thể mình, hoặc xoay trở lặn lộn cho đở mõi…Bà xã tức mình càu nhàu “Cái ông nầy làm gì mà rục rịch sáng đêm làm sao người ta ngủ được!”.Tránh lời rên rỉ của bà xã…tôi cố gắng trân mình chịu đau hoặc trở mình nhè nhẹ. Nhưng làm sao khỏi nhúc nhích đôi chút được…!Mặc dù tôi đã mua chiếc nệm theo quảng cáo: Ông nhúc nhich–bà không bị nhúc nhích. Bà xã của tôi vẫn phàn nàn vì sự lăn trở của tôi.Tôi hơi quạu bởi vì mình cố gắng chịu đựng cái thân thể bất tuân như ý rồi mà còn bị cằn nhằn hoài. Tôi nói: “Tại bà khó ngủ chứ đâu phải tại tôi…hồi nẫm đôi khi ngủ say sưa bà còn ngáy khò kho.Tui có nói gì bà đâu? Vợ tôi nói: Hồi đó khác, bi giờ nầy khác…!Tôi chịu lép vế nằm làm thinh.

Ban đêm vì không ngủ được tôi cứ ngồi bật dậy đi tiểu…cái gì quá kỳ cục, cứ đi tiểu vừa xong vào giường nằm một chút lại muốn mắc tiểu nữa….Bà xã cầu nhàu “Cứ leo lên, bước xuống giường và dội cầu hoài làm sao ai mà ngủ cho được…!Đi khám bác sĩ đi.Coi chừng bị ung thư tuyến tiền liệt đó.(Chuyện nầy khỏi lo vì tôi đi khám rồi…tại uống nước nhiều-khi ngủ hỏng được thường là như vậy…).

Chưa kể nhiều khi xem một cái phim hay, mình muốn coi cho hết, bã rên rỉ: Làm ơn tắt cái TV cho người ta ngủ...ngày mai còn phải đi làm.Tôi cụt hứng tắt cái TV.

Còn nữa, tôi hay hứng tình với nàng thơ. Khi một ý thơ nào đó hay hay hiện ra trong đầu, tôi bậc cái máy vi tính lên và ngồi hằng giờ để làm thơ hoặc viết truyện… luôn thể đọc mail của bạn bè gởi cho mình và trả lời, đôi lúc đọc nhiều bài thơ hoặc bài viết hay mình góp ý. Vợ tôi lại than thở tiếp vì mấy tiếng cộc cạch của bàn phím khi tôi gỏ chữ.

Nhiều lúc bà xã tôi lại tò mò xem tôi làm cái gì trên máy vi tính mà ngày nào cũng mở máy và ngồi ngâm rất lâu. Vợ tôi nghe câu chuyện mấy lão niên cứ lên mạng chát chiếc với mấy em “Cỏ Non” ở Việt Nam…lâu ngày đâm mê mệt và hẹn hò kiếm chuyện về bên đó mà du dương.

Có một ông sau khi đi về Việt Nam nhiều chuyến, khi trở lại Mỹ tuyên bố ly dị bà vợ tắm mẵm ở bên nầy. Dĩ nhiên của cải do vợ chồng gầy dựng bấy lâu bị chia tứ tán. Con cái lớn khuyên cha, nhưng vì quá mê “Cỏ Non” ở Việt Nam rồi nên nhất quyết không nghe ai hết. Chàng già về xứ Việt làm đám cưới linh đình và bảo lảnh em sang Mỹ. Bà vợ mất một căn chung cư… để ông chồng đem con vợ nhí sang hú hí. Buồn quá bà đâm ra điên điên bởi lẻ ông chồng của bà rất hiền lành, sống mấy chục năm ông luôn là người chồng gương mẫu.Hai vợ chồng mở tiệm Nail &Tóc, bà bận rộn với việc làm, ông tận tụy giúp bà từ việc lớn đến việc nhỏ.Hai người chí thú lo làm ăn nên mua được một căn nhà và sau đó là một dãy chung cư gồm 10 căn hộ.Suốt ngày ông cứ quanh quẩn ở tiệm giúp bà điều hành công việc.Tối đến ông làm sổ sách. Bà rất thương yêu chồng và tin chồng hết mực…nhưng ở đời ai đâu có ngờ! Người lù đù “Vát lu mà chạy” ít nói như ông chồng bà lại giở chứng hồi nào mà bà không biết được.Chừng đổ bể ra sau mấy chuyến về thăm bà mẹ già của ỗng còn ở Việt Nam…Ông đòi ly dị và chia của.Bà giử căn nhà và cái tiệm, còn ông thì giử cái chung cư.Bà vô cùng đau khổ vì sự bất ngờ nầy nên đâm ra như người mất trí. Bà tức khí vì mất ông chồng thương yêu rất mực của bà“ Đồ con “quỉ cái cướp chồng bà còn nhởn nhơ hưởng phần mồ hôi nước mắt của bà…trước mắt bà!”.

Tôi không đồng tình với mấy việc như vây.Vợ chồng tay dắt, tay níu con thơ với hai bàn tay trắng sang đây.Vợ chồng xây dựng gia đình từ con số không.Tính từ thời gian bước đầu đến khi cơ ngơi khá ổn định, con cái học hành đỗ đạt và có việc làm, đó là công lao lặng lôi thân cò của vợ chồng tôi trên đất mới nầy.Với tôi…tôi rất trân quý những ân tình của vợ tôi đã khổ cực từ lúc đời tôi đầy gian nan khi còn trong nước và đã góp tay khó nhọc cùng tôi từng năm tháng xây dựng tổ ấm nơi xứ người nầy. Ai mà lại vô cảm-vô tâm phụ rảy ân tình nầy.Tuy nhiên “Ớt nào là ớt không cay- vợ nào là vợ chẳng hay ghen chồng” Với sự nghi ngờ và có thể cũng để đề phòng trước vì thấy tôi sao cứ tối ngày lên mạng hoài nhiều lần vợ tôi nhìn vào khung màn ảnh máy vi tính phía sau lưng tôi để dò xét.Tôi nghĩ chắc mẫm là bà xã tôi nghi ngờ tôi chát chiếc với ai đó, có bao giờ bà xã tôi tò mò để xem văn vẽ của tôi đâu!.Chưa bao giờ thơ văn của tôi lọt vào đôi mắt của nàng…! Mặc tôi mơ mơ, màng màng những chuyện năm xửa năm xưa với nhiều hồi tưởng qua những dòng thơ tình sướt mướt hay tưởng tượng một câu chuyện tình lâm ly nào đó để kết thành văn vẻ đậm tình éo le–lâm ly hoặc đổ vỡ.Tôi đoan chắc vợ tôi chẳng thèm ngó ngàng đến thơ văn của tôi cho dù có đem quyển thơ hay quyển văn của tôi đặt trước mặt.Nhưng từ ngày bà xã tôi giao lưu với bạn bè trong trang Web Trung Học Chợ Lách…tôi có bài vỡ tham gia.Bạn bè của vợ tôi đọc bài của tôi không biết khen thiệt hay chỉ động viên…bà xã cũng dừng mắt đọc thơ văn của tôi cho biết sự tình….Cám ơn trang Web vì tôi có một đọc giã bất đắc dĩ:VỢ TÔI!…!

Người ta thường nói: Sự thành công của người chồng luôn luôn có bóng dáng của người vợ hổ trợ. Tôi nói trại ra: “Sự thành công của các người cầm viết (Văn-Thơ-nhạc-kịch ) phía sau luôn luôn có bóng dáng của các người vợ thông cảm và chịu đựng”. Trong một cuộc phỏng vấn, vợ của nhạc sĩ Anh Bằng có nói: Ổng đi đâu thì đi và làm cái gì thì làm…khi về nhà ổng là của tôi là được rồi…”.Riêng bà xã tôi thì nói: Ông làm cái gì thì làm…nếu lựng bựng gì đó với ai… hể tôi biết được là tôi cho ông đi tàu suốt.Hồi trẻ mình rơi có người hứng lấy còn bây giờ già khú đế rồi ai mà lượm…!Lời phán hơi nặng ký như vậy…có ngán không quý bạn…? Tôi ngán lắm đó…cho nên néu lỡ ăn vụn thì chùi miệng liền hà!

Từ lâu tôi có thói quen …khi đang say sưa với những dòng thơ hoặc lời văn đang hiện ra trong đầu rồi gỏ những dòng chữ hiện ra trên màn ảnh mà bị ai đó dòm ngó là tôi mất hứng và bị khựng lại…Một hôm không dằn được cơn bực bội .Tôi nói với vợ tôi: “Từ nay tôi muốn bà để tôi yên khi ngồi vào bàn máy vi tính làm việc nghe...! Bà xã giận bỏ đi một nước và nói: Ừ tôi đi ngủ riêng…để ông thanh thơi muốn làm gì thì làm…! Và vợ tôi thu dọn ra phòng riêng từ hôm đó.

Chúng tôi ngủ cách ly nhưng sinh hoạt gia đình cũng đều hòa. Mấy đứa con biết lý do má tụi nó ra riêng không phải vì chúng tôi giận hờn nhau mà vì lý do tôi lớn tuổi khó ngủ cứ cựa quậy lung tung làm má tụi nó ngủ hỏng được…!

Mấy ngày đầu ngủ một mình, tôi thấy thiếu thiếu hơi hướm ba xã…vì mấy chục năm ngủ chung giường với nhau rồi chớ bộ …!“Thia thia quen chậu-Vợ chồng quen hơi” mà. Nhiều đêm giật mình mở mắt nhìn bên cạnh, thiếu bà xã cũng thấy lạnh lẻo cõi lòng “Ghe lui còn để dấu dằm-Người thương đi vắng dấu nằm còn đây”.

Mấy lúc sau nầy bà xã tôi hay đi chùa nghe các thầy thuyết pháp. Hồi trước ăn chay một tháng 4 ngày…dần dà ăn gần suốt tháng. Bà xã tôi khoe:Từ ngày ăn chay đến giờ thấy trong người được khoẻ hơn: đường, mỡ, trong máu giãm, ấp xuất huyết giãm.Thế là vợ tôi gần như trường chay. Phòng của vợ tôi gần như là tịnh thất…

Vợ tôi ăn chay, đọc kinh, đi chùa và ngủ chay. Dỉ nhiên tôi cũng đành ngủ chay dài dài…!Tôi tập ăn chay để giãm nhiệt cơ thể cũng chưa đến nỗi của tôi…hơi ngặt chứ bộ…!Nhưng lâu dần cũng quen!

Một mình trong căn phòng rộng, trên chiếc giường King-size(Giường lớn dành cho vợ chồng ngủ chung) tôi thoải mái tự tung tự tác: Đấm lưng, đấm bóp chân tay thả ga, đôi lúc ngồi lên nhấm mắt tọa thiền hoặc uốn éo cho phẻ gân cốt ...không sợ ai rầy rà. Nhiều phim hay cứ thoải mái xem cho tới hết…Bật máy vi tính cộc cạch thỏa thích để làm thơ tình, viết truyện yêu đương… Khi ngồi vào bàn cầu ...đọc báo, đọc thơ cũng không ai hối thúc.(Cái thú đọc mọi văn tự mà tôi vớ được khi vào nhà vệ sinh là một thói quen của tôi khó mà bỏ được). Kể ra Một Mình đâu phải cô đơn...!

Huỳnh Tâm Hoài

Cali đầu năm dương lịch 2014