MỘT
CHÚT TẢN MẠN VỀ
Đôi dòng tiểu sử
Nhạc Sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sinh năm 1939 tại Xã Mỹ Hoà, Quận Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) miền Nam Việt Nam. Cha là một nhà giáo rất nghiêm khắc với con cái, trái lại ông rất lãng mạn đa tình và yêu thích
văn nghệ. Năm 15 tuổi ông tự
học âm nhạc và sáng tác nhạc từ đó. Xã Mỹ Hoà là một vùng đất giồng có nhiều lũy tre, xen kẽ với những
cây sầu đâu chạy dọc theo các giồng cát. Vào những trưa hè là chất liệu được
ghi vào nét nhạc của ông” Nắng mai non, nắng ngã tàu dừa-sáo diều lưng lưng gió- Giấc ngủ bờ tre trưa-Lời tình tiếng võng đu
đưa”(Chín dòng sông hò hẹn). Rời miền quê lên Sài Gòn, ông sống với những ngày nổi trôi túng thiếu. Trong thời gian nầy tình yêu của chàng nhạc sĩ
nghèo nẩy nở…Yêu, được yêu và tình yêu đổ vỡ đã hình thành những
sáng về tình yêu cả tình đời của ông trong giai đoạn nầy rất sâu lắng. Nhạc của ông như gắn liền với hồn tôi qua nhiều
khúc nôi tâm tình và cuộc sống. Hình như vô hình trung tâm tình của ông là của tôi vậy.
1-Tình yêu của tôi
và dòng nhạc của Trúc Phương:
Hồi đó, rất lâu - vào khoảng cuối thập
niên 50. Lúc đó Nhạc Sĩ Trúc Phương chưa nổi tiếng. Anh Phương ôm đàn thùng
cùng anh Văn Xe đàn cho Văn Nghệ Thông Tin Tỉnh Trà Vinh, với giọng ca chính là
Văn Xe và cô Ngọc Ánh.
Sau khi đậu Tiểu Học, tôi rời Quận Trà Cú, lên ở trọ nhà một người
chú thứ năm. Tôi ghi danh lớp Đệ Thất Trường Trung Học Long Đức. Sở dĩ tôi chọn
trường này vì trường có chương trình dạy thay vì 4 năm thi Trung Học thì có khi
2 năm hoặc 3 năm được ghi danh thi. Có vài
anh chị đi thi và đã đậu Trung Học. Chủ trường là chú thím Hai Nhơn. Ngoài chú thím ra trường còn qui tụ các thầy
cô rất giỏi như thầy Đức, thầy Phổ, thầy Ninh, thầy Tố... Cuối hè năm lớp Đệ Thất, tôi trở lại trường thì thấy cổng
trường đóng kín im lìm. Tôi dọ hỏi thì mới biết vì
trường dính líu đến chính trị nên bị đóng cửa. Chú Hai Nhơn và gia đình trốn vào mật khu. Các thầy còn lại một số bị bắt như thầy Ninh…
Sau năm 75 tôi nghe bạn bè kể lại chú Hai
Nhơn bị mờ đôi mắt vì bị hơi nóng của bom lân tinh, Bé Hai học chung lớp với
tôi là con lớn của chú bị chết ở mật khu và bà Trần Thị Mè chính là thím
Hai dạo nào.
Tôi cùng một số bạn khác đầu quân vào
Trường Nguyễn Quan Anh vì một số thầy cũ
của trường Long Đức sang dạy ở đây. Cuối
cùng năm 1960 tôi thi và lớp Đệ Tam Trường Trung Học bán công Trần Trung Tiên
khóa niên học 60-61.
Vào thời gian còn nhỏ tôi mê cổ nhạc hơn tân
nhạc. Tôi đi xem văn nghệ chỉ chú
ý đến mấy cô đào, anh kép cải lương. Nhưng khi vào học trường Trần Trung Tiên,
tôi đã thay đổi. Ở đây tôi đã yêu và được yêu. Tôi yêu D, một cô bé lớp đệ Ngũ và bản Đò Chiều của Trúc
Phương là cái duyên thầm kín mà cô bé thố lộ tình yêu với tôi..Một buổi chiều
cô bé sang nhà chú thím tôi xin mồi lửa nấu cơm chiều. Tôi cũng đang giúp thím tôi đơm thêm củi, lúc nầy thím
bận gì đó bên nhà trong. Tôi gặp cô bé. Cô bé lí nhí
nói với tôi xin mồi lửa. Mỗi chiều tan học về tôi
thường ngồi trên võng đu đưa nhìn cô bé đi học về với đôi mắt trìu mến…có lẽ vì
vậy mà hôm nay gặp mặt, cô bé lúng túng và tôi thì hồi hộp. Cô bé đưa nhúm lá
khô mồi lửa…tôi đứng kế bên nhìn em…lửa mồi lâu chưa cháy…Tôi nói gì đó…Hình
như: “ D ơi! tôi yêu em…em có yêu tôi không?” Nàng vụt bỏ chạy về nhà. Nhúm lá khô bỏ lại cháy lem dưới đất. Tôi đứng trơ với trái tim đập như vỡ lòng ngực
vội dụi đớm lửa bằng chân dép. Sau mấy ngày tôi không dám
ngồi nơi chiếc võng để nhìn em đi học ngang về. Rất lâu cả tuần lễ sau đó, cô bé lại sang xin mồi lửa. Cơ may em lại
chỉ gặp một mình tôi…tôi hỏi: “D ơi! trả lời
tôi đi..! D có yêu tôi không?. Em đỏ mặt đứng nhìn vào nhúm lửa đang mồi cháy
và nói: “Kỳ quá…”và cầm nhúm lửa chạy về nhà. Sau đó chúng tôi có những đêm
khuya hò hẹn ở phía sau nhà lúc mọi người đều ngủ. Em chưa trả lời yêu tôi, nhưng những nụ hôn nồng cháy là
tiếng nói nhiệm mầu nhất mà nàng trao cho tôi.
Phòng học của tôi nhìn qua nhà bếp nhà em.
Mỗi ngày em ra bếp nấu cơm. Tôi ngồi nhìn em qua khung
cửa sổ. D hát bản Đò Chiều, đến đoạn "Trông anh trai phong
sương em thấy mà thương " thì
nhìn sang tôi với nụ cười tình tứ. Ôi! rung cảm làm sao ấy...Chúng tôi yêu nhau
đúng một năm, vì sự non nớt dỗi hờn của tuổi trẻ đã làm
tình yêu chúng tôi bị vỡ tan. Tôi đau buồn khôn tả. Buổi
văn nghệ năm đó tôi hát bản "Chuyện Chúng Mình" của Trúc Phương. Tôi
muốn hát cho riêng D, người yêu đầu đời của tôi "Đêm
nay em ngồi lặng yên nghe tôi kể chuyện
xưa bao năm lắng trong tim, tình mình từ thủa tuổi đôi mươi, mà ta chưa biết
nên để lỡ duyên đầu" . Đã lỡ duyên đầu làm tôi buồn
ngơ ngẩn và quyết định rời Trà Vinh lên Sài Gòn học để cố
quên mối tình chớm nở đã vội tan. Cũng kể từ đó tôi thường
hát nhạc của Trúc Phương qua mấy bản như "Mưa Nửa Đêm, Bóng Nhỏ Đường
Chiều, Buồn Trong Kỷ niệm, Hai Lối Mộng...nhất là bản "Con Đường Mang Tên
Em". Mỗi lần hát bản nầy tôi nhớ lại con đường hàng me ở Trà Vinh, mỗi
ngày hai đứa cùng đi đến trường. Ánh mắt, nụ cười trao nhau trong suốt con
đường với cơn gió, làm lá me quấn quít tà áo trắng, rơi dính trên mái tóc ngắn đuôi gà
của em.
Đi học ở Sài Gòn, nhiều đêm lang thang
ngoài phố một mình "Ai cho tôi tình
yêu để làm duyên nụ cười. Tôi
xin dâng tình tôi trọn đời" hoặc "Nửa đêm
ngoài phố
vắng có người mãi đi tìm, một người không hẹn đến mà tiếng bước buồn thêm. Tiếc
thay hoài công thôi, phố đã vắng thưa người. Biết rằng chẳng duyên thừa để
người không gặp nữa,về nối giấc mơ xưa". Nhưng giấc mơ xưa đã trở
lại khi tôi gặp lại D. trong một buổi tối Sài Gòn mưa bay lất phất...Tôi chạy chiếc
Velosolex chầm chậm ngang qua vũ trường Paramount, thật hết sức vô tình tôi đưa
mắt nhìn vào và thấy D vừa bước từ thang lầu đi xuống. Tôi gọi D..D ..Ơi! D chạy vội ra và ôm chầm lấy vai tôi,
lúc ấy cách không xa có một người thanh niên mở cửa xe, chờ đón D về. Tôi nhìn về hướng ấy, D hiểu ý, nói: "thây
kệ"......Rồi ngồi lên sau yên xe tôi nói: "Anh chở D về dùm". Tôi đưa D về trong cơn mưa phùn cuối năm,
bỗng thấy nhói trong lòng, đau thay vì thấy hạnh phúc
khi gặp lại người yêu sau bao năm xa cách. Khi biết em làm trong vũ trường, lòng tôi chùng xuống xót đau. Tôi từ chối vào nhà em, với lý do phải trở về
nhà nghỉ ngơi để trở lại quân trường sớm. Về nhà
tôi không tài nào ngủ được "Xin giã
biệt bạn lòng ơi, trao trả môi người cười, vì hai lối mộng hai hướng trông,
mình thương nhau chưa trót thì chớ mang nỗi buồn cho đù chưa lần nói". Cái Giáo Lý Khổng Tử đã ăn sâu trong đầu tôi
trong mấy năm học Trung Học "Xướng ca vô loại" đã làm hỏng tình yêu
của tôi thật sự từ đó. Tội nghiệp cho em và tội
nghiệp cho tôi !..
Khói
lửa chiến tranh sau Tết Mậu Thân 68 đã đẩy tôi suốt 2 năm không ngừng nghỉ
ngoài mặt trận với cái chết trong gang tấc."Kẻ
ở miền xa, trời quen đất lạ nhiều đông lắm hạ, nối tiếp đi qua, thiếu
bóng đàn bà…". Cuộc đời binh nghiệp, cận kề với cái chết làm tôi lang bạt tình
đời, xem cuộc tình như những buổi chơi rong, gặp đó, ân ái đó - rồi thôi..rồi quên...Không có cuộc tình
nào trọn vẹn. " Mượn em cánh én đeo
hồn. Trong
anh thật sự đã mòn dấu xuân". Những ngày nghỉ phép là những ngày rượu uống bạt mạng và
thường khi: "Đưa
ta đi về nguyên thủy loài người, mùa yêu khi muốn ngỏ, vụng về ngôn ngữ tình
nên làm bằng dấu đôi tay". Sau hơn hai năm ngoài
chiến trường, tôi có dịp trở về Sài Gòn,
ghé Thị Nghè nơi căn nhà gia đình D ở. Tôi gõ
cửa, đứa em gái D mừng rỡ mời
tôi vào nhà và nói anh đi đâu mất biệt?..em ngập ngừng."Chị D lấy chồng
cách đây 2 tháng"..Tôi nghe nhói trong tim. Và sau đó không biết tôi đã nói gì với em của D.. Tôi ra về....Đó là năm...cho tới nay hơn 36
năm dài trôi qua mà hình bóng cũ vẫn còn trong tôi mỗi khi có dịp hát nhạc của
Trúc Phương."Trở lại chuyện 2 chúng
mình, khi em với anh vừa biết đam mê, tình yêu tràn trề........"
2- CUỘC HỘI NGỘ VỚI
TRÚC PHƯƠNG
Sau
thời gian ở trại "cải tạo"về, tôi
và vợ con tôi sống với gia đình ba má tôi ở Trà Cú. Sau một năm ăn không ngồi
rồi, tôi xoắn tay theo làm phụ xế xe đò cho đứa em trai. Trong thời gian nầy tôi gặp và quen với vài người bạn văn
nghệ cũ ở Trà Vinh. Hôm đó anh bạn đang nói chuyện với tôi ở một góc của bến
xe, anh chỉ tay về phía một người cao cao mang kín cận đang đi lại hướng hai
chúng tôi, anh bạn hỏi tôi "Anh có biết Trúc Phương không?”. Tôi hỏi có
phải Nhạc Sĩ T.P không? vừa lúc đó T.P đang đứng trước mặt tôi. Anh bạn giới
thiệu: “Đây là anh Phương và đây là anh T.H”. Anh
bắt tay tôi một cách ỡm ờ lấy lệ và nói năng rât thận trọng. Nhưng nhiều ngày
sau đó tình thân giữa tôi và anh tốt hơn nhiều. Có lần anh theo tôi về nhà và ở
lại đôi ba ngày. Chúng tôi bắt được nhịp thở văn nghệ với nhau. Tôi nghĩ anh cẩn thận với mọi người vì lúc đó
tình hình rất khó khăn. Tôi biết được anh nhiều
hơn. Anh tâm sự "Toa biết không, moa
rời Sài Gòn về sống với má moa ở Cầu Ngang, ăn không ngồi rồi với nhiều nỗi lo
vì không hộ khẩu. Má moa lại già, chỉ sống
nhờ mấy đứa cháu, moa về ở gây thêm gánh nặng....Mà đi đâu bây giờ?. Vợ con đã cách biệt trước 75 , bây giờ thì
bặt vô âm tín. Anh sống nhờ sự đùm bọc của những anh em bạn bè yêu mến anh.
Nhưng vào thời buổi gạo châu củi quế, đâu có ai đủ sức gánh gồng thêm ...nên anh
rày đây mai đó...! Có lần anh nói: "Toa
biết không, moa bây giờ viết nhạc theo
đơn đặt hàng để kiếm cơm". Tôi nhìn anh ngờ vực. Anh đưa cho tôi xem bản
nhạc chép tay, bản nhạc viết cho ban quản lý bến xe Trà Vinh. Anh nói: “chưa
chắc moa đưa cho họ” và vẻ mặt anh buồn buồn…! Sau nầy qua sự giới thiệu của một anh Họa Sĩ trẻ, ban Văn
hóa thông tin Huyện Trà Cú đùm bọc anh. Chính nơi đây anh sáng tác khoảng 5, 6 bản. Có một bản mà tôi thích nhất đó là bản "Trà Cú Trong Tình Thương Mật Ngọt" viết theo âm hưởng ngũ cung :
"Nhớ
thuở yêu em,
từng
bước Lâm Thôn giai điệu ngày đầu,
dzìa lâu đậm mầu,
vì ai
anh múa qua cầu
3- LÃNG MẠN, ĐA
TÌNH
Trong
một dịp anh theo tôi về Chợ Lách để thăm
ba vợ tôi bị bịnh. Khi về đến nơi thì người nhà cho biết đã đưa ông cụ ra Bệnh
Viện Vĩnh Long. Chúng tôi lại xuống đò trở ra Bệnh viện ở V.L .Trên đường đi từ
bến đò đến bệnh viện, chúng tôi đi song bước trò chuyện, môt lúc tôi thấy anh
đi chầm chậm…và lùi dần về phía sau. Tôi vì
muốn đi mau để vào thăm ông cụ nên cứ để mặc anh đi phía sau. Một hồi lâu tôi
nhìn quay lại, không thấy anh đâu cả.. Nhìn
kỹ lại thì thấy anh hai tay bíu vào tường và nhìn ai đó bên trong.Tôi
gọi anh ơi ới. Bấy giờ anh buông tay
tuột xuống và đi nhanh về phía tôi. Tôi
hỏỉ anh làm gì đó?. Anh bảo: "Moa nghía hai cô bé trèo cây mận”.
Lúc tôi vào phòng thăm ba vợ tôi thì anh tha thẩn ngoài
hành lang B.V. Khi tôi trở ra ngoài thì chẳng thấy anh đâu. Tôi ngó nhìn một lúc thì thấy anh ngồi trên
cành cây sứ với cây bút và mảnh giấy. Tôi
gọi anh lại để ra bến xe trở về T.V. Tôi
hỏi anh viết gì đó?. Anh bảo viết nhạc "Tà
áo trắng Bệnh Viện". Tôi nghĩ anh viết chưa
xong. Sau nầy vì bận rộn với cuộc sống, tôi quên hỏi anh có hoàn tất
bản nhạc đó chưa?. Ở anh khi có bóng dáng
người đẹp, với ly cà phê và điếu thuốc, anh sáng tác nhạc rất nhanh. Mới hay
cái lãng mạn của anh đã khơi dậy trong anh những nốt nhạc cho những bài nhạc
tình mà theo thiển ý của tôi rất đặc biệt Trúc Phương khó mà lầm lẫn với các
nhạc sĩ khác .
4- ĐÔI DÒNG CUỐI:
Sau năm 75 một số văn, thơ, nhạc, họa sĩ thoát ra được
nước ngoài nên cuộc sống dễ thở. Đa số còn kẹt lại trong
nước. Có nhiều người sống vật vờ,
âu lo, cạn queo, ngõ cụt hoặc bị tù
tội...Rồi thời gian trôi. Có
người
tháo vát hay có căn cơ còn sống tàm tạm. Còn số
còn lại? Phải làm gì đây để sống? Họ chỉ có cây viết! Và họ phải lao lách viết.
Rồi họ bị chụp mũ nầy, mũ nọ..!!!Ai nuôi sống
họ?...Trong lúc người ta xử dụng tác phẩm của họ để làm giàu. Có lúc nào
quí vị nghĩ tới họ chưa ???? Như Nhạc Sĩ Trúc Phương lúc
chết đi với cái vốn còn lại là đôi dép, trong ngõ hẹp nơi Thành
Phố Sài Gòn. (Đoạn thông báo về cái
chết của TP do Việt Dzũng nói trong một chương
trình ca nhạc của Trung Tâm ASIA).
( Sacramento mùa lạnh
2006)
Ghi
Chú : Moa,
toa nói theo âm tiếng Pháp: Tôi, Anh
Ngôi mộ của Trúc Phương được bạn bè thực hiện
TẢN MẠN VỀ
Nhà Văn SƠN NAM
Trước khi vào đề tài chính tôi xin dẫn
lược về nhóm Chim Việt Văn Đoàn vì nhóm có liên hệ trực tiếp với đối tượng mà
tôi muốn nói tới. Nhóm Văn Đoàn Chim Việt do anh Phan Công Minh, bút hiệu là
Doãn Nhân và bạn hữu Trà Vinh cùng một số các bạn trẻ khác thành lập năm 1969
tại Sài Gòn. Các bạn trong nhóm đa số là học sinh, công chức và quân nhân trong Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa: như anh Minh là Trung Úy Cảnh Sát thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát
Quốc Gia, chị Mai Thị Thu Cúc, hiền thê của anh Minh làm ở Hội Hồng Thập Tự Sài
Gòn, anh Nguyễn Bá Ngọc là công chức Nha Tiếp Vận Y Dược Sài Gòn, anh Huỳnh Văn
Luận, anh Trần Văn Viễn, anh Thành Long là sĩ quan cấp “úy” trong Quân lực VNCH… Nhóm Chim
Việt mời anh Sơn Nam và anh Kiên Giang
Hà Huy Hà làm cố vấn cùng các thân hữu cổ động tinh thần như Hà Chi, Việt Cầm,
BS Nguyễn Anh Tài, Giáo Sư Nguyễn Tinh Tú…Nhóm đặt trụ sở tại 84 đường Ký Con
Sài Gòn. Chim Việt xuất bản Tuyển Tập Dựng Mùa năm 1969 kế đến là Giai Phẩm Đất
Sáng, tập truyện Khoảng Cách gồm nhiều tác giả trong nhóm, tập thơ Vừng Hồng,
truyện dài Đời Vô Định của Nguyễn Bá Ngọc, tập thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ, Thái
Bình Trở Lại, Mặt Trời Lên của Nhà Thơ Truy Phong, tập thơ Những Hàng Châu Ngọc của Nhà Thơ Huy Trâm…Hoa Thế
Hệ là tập thơ định kỳ phổ biến nội bộ và bằng hữu ….
Tôi là
người trong nhóm Chim Việt từ ngay ngày đầu mới thành lập và tôi có nhiều dịp
gặp anh Sơn Nam trong các buổi họp ra mắt sách do Chim Việt xuất bản. Cái giao
tình của tôi với anh từ dạo ấy cho đến ngày anh ra đi. Anh lớn hơn tôi nhiều
nhưng cung cách giao tiếp của anh rất chân tình không kiểu cách hay lộ vẻ chiếu
trên như một số người thành danh trên văn đàn dạo ấy. Cho nên chúng tôi và mọi
người trong nhóm rất kính nể và thương yêu anh. Đời sống của anh rất đơn giản,
ăn mặc xuề xòa, đội chiếc nón vành cũ kỹ, và đôi dép mỏng dính anh đi bộ khắp các nẻo đường phố Sài Gòn, anh đi
khắp các nẻo đồng bằng Nam Bộ. Anh cười rạng rỡ, nói năng thân tình pha chút
tiếu lâm với mọi người. Phong cách của anh rặt ròi người miền Nam chính thống.
Sơn Nam
tên thật là Phạm Minh Tây, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926 tại làng Đông Thái, Gò Quao, Tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá). Cũng như bao nhiêu người yêu nước
thời Thực Dân cai trị, anh tham gia phong trào Việt Minh, nóp với giáo vào
chiến khu chống Pháp. Sau năm 54 anh trở về thành và đoạn tuyệt với phía bên
kia. Anh sống ở Sài Gòn với nghề viết văn. Trong thời gian sống và viết anh ít
khi đá động đến chánh trị, anh chuyên khảo về vùng đất phương Nam. Anh viết
chuyện Hương Rừng Cà Mau, Xóm Bầu Bàng, Biển Cỏ Miền Tây, Lịch sử khẩn hoang
miền Nam, Văn minh miệt vườn…
Trong khói sóng
mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên nầy Sông Tiền
Qua bên kia Sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với hai chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau, Rạch Giá
Cất chòi, đốt lửa giữa rừng thiêng…
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương
Chiều chiều nghe vượn hú,
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước về nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê
(Thay lời tựa trong
tập Hương Rừng Cà Mau)
Hồn ở đâu đây
Hồn ơi hồn hỡi
Xa cây xa cối
Xa cội xa nhành
Đầu bãi cuối gành
Hùm tha sấu bắt
Bởi vì thắt ngặt
Manh áo chén cơm…
Ta thương ta tiếc
Lập đàn giải oan…
(Trong truyện ngắn
Bắt Sấu rừng U Minh Hạ)
Có một số người viết gán ghép cho anh là sau năm 54 anh được đề cử
về thành tiếp tục hoạt động. Có người gán cho anh là Việt Cộng sau năm 75 vì
anh không bị đàn áp như những văn nghệ sĩ khác mà còn được trọng dụng vào Hội
Nhà Văn Thành Phố. Đứng về một phía nào đó thì cái gán cho anh là người cộng
tác với chế độ mới là không chối cãi được vì anh là hội viên của Hội Văn Học
Thành Phố. Nhưng
trong cái giao tình thân thiết và sự hiểu biết về anh Sơn Nam trong suốt những
năm tháng trước năm 75 cũng như sau nầy sau khi ra tù “cải tạo” về, cũng như
khi đã định cư ở Mỹ thì tôi cho rằng những gán ghép đó không đúng.
”Hùm tha sấu bắt- bởi vì thắt ngặt -
manh áo chén cơm”. Anh đã bị gán ghép và hàm oan cũng vì cuộc sống. Sau năm 75 là khoảng thời
gian kinh hoàng của đất nước, các văn nghệ sĩ bị bắt bớ tù đày cùng hàng triệu
quân cán chính vào ngục tối, hoặc vào trại cải tạo. Anh được khoan dung bên
ngoài, ấy là một ngoại lệ hiếm hoi. Có nhiều luận cứ cho anh, nhưng có hai
điều. Thứ nhứt: Anh là bạn kháng
chiến cũ của Võ Văn Kiệt hồi ở quân khu
9 năm xưa, lúc ấy đang ở Sài Gòn đỡ đòn cho anh. Thứ hai trong thời gian vào
thành sau 54 đến nay anh chỉ viết chuyên khảo không có bài “chống phá Cách Mạng” và họ xử dụng anh
như con cờ để nói rằng có hòa giải dân tộc. Tôi nghĩ cả hai cách nầy khả tín nhứt.
Sơn Nam là một người trung thực và không bao giờ cầu lợi, nhưng chắc vì
miếng cơm manh áo anh phải cam chịu hoàn
cảnh, nhưng anh vẫn giữ khí tiết kẻ sĩ không a dua theo thời cuộc. Những bài
viết của anh trước kia cũng như sau nầy không bao
giờ tâng bốc chế
độ. Anh chỉ níu kéo cái hào quang 9 năm cũ để được” chén cơm manh áo” qua các bài viết của mình. Lúc còn trong nước
khoảng năm 1980 Võ văn Kiệt cấp cho anh một căn nhà ở đường Nguyễn Công Trứ.
Lúc đó con đường nầy buôn bán tràn lan vỉa hè. Trong một hôm gặp tôi ở nhà anh
Phan Công Minh. Lúc nầy anh Minh cũng vừa mới ở lò “cải tạo” về, anh nói với
chúng tôi: “Ê hai bồ biết
không? Sáu Danh (bí danh của ông Kiệt) hứa cho Qua cái nhà ở đường N.C.T, Qua giao nhà cho mấy bồ làm
ăn, có lời cùng chia sống với nhau”. Rồi ông Kiệt dời ra Bắc, căn nhà cũng đi luôn! Cơ Quan Nhà Đất hứa khi ông Kiệt còn và
nín luôn khi ông Kiệt đi! Anh nói với chúng tôi trong dịp gặp khác: “Ê hai bồ! tụi đó nín luôn không cho nhà rồi!” Sau nầy khi ông Kiệt biết
chuyện đó thì mọi chuyện về căn nhà ở đường N.C.T đã an bài. Để giữ lời hứa ông
Kiệt can thiệp với Sài Gòn cho anh căn nhà khác. Anh nói: ”Tay
nầy chí tình thiệt mấy bồ”.
Tôi nhớ
hồi thời nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, cụ Mai Thọ Truyền với chức vụ Quốc Vụ
Khanh đặc trách Văn Hóa cũng đã
cho anh môt căn nhà ở khu Cư Xá Vĩnh-Hội, anh chỉ cho người ta mướn để kiếm
thêm thu nhập cho gia đình. Anh chị vẫn ở căn nhà trong ngõ hẻm đường Nguyễn
văn Thoại. Sau nầy anh bán căn nhà
ở Vĩnh Hội vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
Một dịp
khác anh được Hội Nhà Văn Thành Phố cử ra Bắc họp. Họ cho anh bộ đồ vest , đôi
giày da, cái cặp da...Anh nói: “Ê hai bồ, đi Bắc lần nầy, khi về Qua
bán mấy thứ nầy mua được mấy gia gạo cho má sắp nhỏ”. Nhưng khi đi họp về, toàn bộ các món trên bị lấy lại
hết. Anh nói với chúng tôi: “Tụi nầy đểu quá mấy bồ, Qua
tưởng nó cho luôn ai ngờ đi họp về nó lấy lại ráo trọi!” Tụi tôi hỏi anh về chuyến đi Bắc anh
nói cũng chẳng trò trống gì. Cứ họp và phát biểu nhứt trí, nhứt trí!…., sau đó có dịp ăn uống, vì ngoài ấy đói thấy bà, họ ăn uống
cho đã!!! Anh kể tiếp mấy thằng văn nghệ ngoài ấy hỏi gắt Qua: “Ông làm phách xưng hô là Ngọn núi
của miền Nam nhỉ? Qua (Sơn-Nam) cười và nói với bọn
nó: “Ê mấy bồ lộn rồi, Sơn Nam là ngọn Núi ở phía Nam Việt Nam (sic) ! Trong một dịp có người ngưỡng mộ
anh mời anh về nhà dùng cơm. Anh bất nhẫn ngồi ăn trong căn nhà chừng 4 mét
vuông anh được chủ nhà đãi ăn trên một manh chiếu
trải giữa nhà với vài người bạn. Trên tấm phản gần bên, hai ba người đang ngồi
nhìn, phía trên tấm phản vợ chủ nhà
ngồi trên chiếc võng ôm đứa cháu đong đưa, cũng đang nhìn. Anh nói ngồi ăn mấy
miếng thịt gà mà nuốt không vô!. Anh nghĩ họa hoằn tiếp rước như vầy mới có thịt gà! Người đông, gia cư
không phát triển, cả mấy thế hệ ở chung trong căn nhà có từ thời ông bà. Anh
lắc đầu: “Đó! xã hội miền Bắc, xã hội chủ nghĩa đó mấy bồ!”
Năm 1988 khi
rời Việt Nam theo diện con lai, trước khi đi tôi có một buổi tiệc nhỏ ở tại nhà. Anh nói với tôi: “Ê bồ! ở bên đó họ chửi Qua là Việt Cộng, bồ nói dùm
Qua: Sơn Nam không bao giờ là Việt
Cộng (sic)”. Khi định cư tại Mỹ tôi có đọc vài
bài viết nói về anh, nhưng nói chung chung chưa có ai đả kích anh thậm tệ chỉ
nói là anh cộng tác với chế độ mới, là người được chế độ mới trọng dụng, là
Việt Cộng nằm vùng... Nhưng
không đưa được bằng chứng nào cho thấy anh viết bài tâng bốc chế độ mới, chửi
bới chế độ cũ miền Nam Việt Nam. Tôi cam
đoan là không có. Những bài viết sau nầy anh chỉ níu kéo của một thời kháng
chiến cũ như là cái dù để bài được đăng, để có lương mua gạo, để tồn tại mà lo
cho gia đình. Thực sự anh có làm việc cho Hội Nhà Văn cũng vì miếng cơm manh áo
- Ai nuôi anh bây giờ giữa một xã hội điêu đứng cùng cực vì cơm áo. Với cái
thân ốm yếu làm sao gánh vác gia đình với ba đứa con còn nhỏ, chị Nam vợ anh
làm cô giáo với số lương còm cõi làm sao mà sống! Anh chỉ mong cái ngòi viết
của mình còn mài trên giấy để tìm sự sống còn. Phần tôi vì hiểu rõ hoàn cảnh
của anh nên nhín chút ít tiền lương, lâu lâu tiếp hơi cho anh. Tôi muốn viết
bài cải chính cho anh, nhưng có hai lẽ tôi không làm: một là khi nói lên sự
thật có nhiều điều bất lợi cho anh vì anh còn trong nước. Hai là tôi rất ngại
tranh luận, đôi khi người ta còn chụp mình cái mũ to tướng là thân Cộng, hoặc
giả Việt Cộng nằm vùng. Tôi không lạ gì có một số anh em mình ở đây. Nếu ai
không đồng quan điểm với mình thì gán cho người ta bằng muôn thứ mà họ có thể
chụp lên đầu người ấy hoặc chửi rủa thậm tệ người ta như bọn
hàng tôm cá! Ở ngoài nầy có ai đoái hoài
đến rất nhiều phần đời giống như anh còn kẹt lại không? Như một Nhạc Sĩ Trúc Phương tài hoa đã chết
trong cảnh túng nghèo, tài sản còn lại là manh áo tơi trên mình và đôi dép mỏng
dưới đất! Ôi còn nhiều cảnh nữa… Ôi! bao nhiêu thống khổ cho những người còn ở lại !!!??? Có ai thương cho họ không ? Họ phải tự
cứu đời họ chứ!. Có thể nói họ không có khí tiết kẻ sĩ!? Thưa quí ngài. Đâu có
đòi hỏi mọi người phải khí tiết khi hoàn cảnh không cho phép họ khí tiết được.
Nếu khí tiết hết tại sao phải chạy trốn! Phải đầu hàng! vinh nhục khó lường
quá!? Tôi luôn kính cẩn ngưỡng mộ những anh hùng tuẩn tiết vì Tổ Quốc như tướng
Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai… hoặc những bạn bè bất khuất bị bức
tử trong các trại giam từ Bắc chí Nam. Tôi khinh miệt bọn lợi dụng chữ nghĩa chưởi bới, hạ nhục vô cớ anh em
một nhà… Và tôi tự hỏi bao giờ cộng đồng hải ngoại mới đoàn kết được. Chưa đoàn
kết được thì nói gì tới làm nên “Đại Sự”?
Gần cuối
cuộc đời anh đồng ý cho Nhà Xuất Bản Trẻ in lại toàn tập tác phẩm của anh và
viết một tập “Hồi Ký Sơn Nam”. Nhà xuất bản trả tiền cho anh hàng tháng vài
triệu đồng Việt Nam và chia lời phần tác quyền khi bán sách. Trong chuyến về
Việt Nam năm 2003, mặc dù tuổi già nhưng anh cùng bạn bè ra tận phi trường Tân
Sơn Nhứt đón tôi. Buổi hội ngộ ấy làm tôi muốn trào nước mắt. Không ngờ anh
thương tôi như vậy. Cũng trong dịp về nầy, tôi với anh có vài buổi gặp gỡ với
bạn bè cũ. Anh tâm sự : “Ê bồ! bây giờ trong
nước người ta dám nói rồi nghe bồ”. Riêng anh thì chỉ nói cái
rỗng thối của chế độ với bạn bè nhưng vẫn chưa thấy anh viết. Tôi thầm nghĩ
không biết anh có viết về đề tài nầy không?
Trong phần
giới thiệu Nhà Xuất Bản Trẻ viết về anh như sau:
“Gần 60 năm cầm bút, trải qua bao cuộc thăng
trầm vất vả, ông đã có một số lượng tác phẩm thật đồ sộ: gần 300 truyện ngắn,
hàng chục tập sách biên khảo về người và đất Nam Bộ. Ông thật xứng đáng với
danh hiệu cao quí mà bạn đọc xa gần phong tặng “Nhà Nam Bộ Học”.
75 năm
cuộc đời đã trôi qua trên tấm thân gầy yếu, khắc khổ của ông. Những lận đận, long đong dường như chưa dừng. Con
người có tư cách, như ông tự nhận, dường như không muốn nói láo. Ở tuổi 75, ông
vẫn chưa dứt được những lo toan, trăn trở, chưa được hưởng nhàn (theo nghĩa
thông thường) dù chỉ một ngày.
Trong phần đầu vào truyện của
tập “Từ U Minh đến Cần Thơ” có đoạn: “Lão ta không nói láo. Gần đất
xa trời rồi! Nói láo làm chi cho mang tội. Chẳng qua là kinh nghiệm trường đời
có giới hạn. Họa chăng khi lão mất, người trẻ trở thành người già, nhớ lại bóng dáng lão, rồi đánh giá
rằng đó là người có tư cách. Theo ngôn ngữ xưa trước 1945, có tư cách là có đầu óc, tức là người quan tâm ít nhiều đến chánh trị, là
người biết vinh nhục có trách nhiệm.
Tôi chỉ được anh tặng qua
người bạn trước khi trở lại Mỹ tập đầu của toàn bộ tác phẩm “Hồi Ký Sơn Nam”
năm 2003. Khi về lại Việt Nam năm 2007 tôi được anh bạn thân Nguyễn Bá Ngọc chở
đến tư gia của anh, lúc nầy anh đang bị thương trong một tai nạn, anh bị trật
xương tọa chỉ nằm một chỗ không ngồi được. Anh tiếp chúng tôi trong tư thế nằm
dựa lưng trên chiếc gối. Anh vẫn sảng khoái nói cười với chúng tôi như thủa
nào. Trông anh lạc quan, tự tại. Dịp đó tôi quên mang máy ảnh để chụp vài bức
ảnh kỷ niệm với anh. Anh bạn tôi nói: “Thôi vài hôm trở lại cùng tìm mua toàn bộ mấy quyển sách hồi ký của anh, luôn thể xin chữ ký lưu niệm”, vì sách in ra Nhà Xuất Bản không đưa
cho anh tập nào hết. Nhưng bận bịu công việc giờ chót tôi không trở lại được để
thăm anh lần nữa như ước muốn. Tôi thầm nghĩ chắc lần về sau sẽ không còn gặp
anh nữa!
Giữa khuya
ngày 13 tháng 8 năm 2008 vừa qua, anh Ngọc điện thoại báo tin anh Sơn Nam đã ra
đi và sẽ được chôn cất ở Bình Dương như ý anh lúc còn sống. Tôi lặng người buồn bã. Anh ra đi thật
sự rồi! anh bỏ thế gian nầy ra đi với cái tuổi đó cũng quá thọ rồi. Tôi nghĩ chắc anh cũng thanh thản tự
tại như lúc anh còn sống?
Tôi thấy thói thường tình, khi người ta dù có tài cán đến
đâu, khi còn sống thì ít được ai quan tâm đến cuộc sống của họ. Nhưng khi họ mất đi thì người ta tụ
quanh xác chết để hưởng nhang khói vinh quang của người ấy. Cả khi người ấy
đang còn sống nhưng cơ may sắp qua đời nay mai, họ cũng chuẩn bị cho cuộc đầu
tư sau nầy. Như trường hợp anh Sơn Nam anh là hội viên của Hội Nhà Văn Thành Phố,
lẽ ra Hội Nhà Văn phải lo hậu sự cho anh, nhưng Tỉnh Bình Dương đã đi trước một
bước là dẫn anh lên Bình Dương chọn chỗ và lo thiết trí nơi an nghỉ cho anh.
Khi thành phố nghĩ tới, lúc anh sắp qua đời thì đã muộn.
Viếng mộ nhà văn Sơn Nam năm 2007
Cho hay người ta xử dụng người sống và xử dụng luôn cái xác của người ta để
chứng tỏ mình có nghĩa tình và nơi sở tại của họ có một người tài danh nằm ở
đó!
Tôi là người
ngưỡng mộ anh từ lúc còn mới biết đọc truyện, khi lớn lên được tiếp xúc với
anh, được nghe anh tâm sự. Tôi khẳng định những điều Sơn Nam nói với tôi qua
tâm tình trải nghiệm của anh là đúng. Anh là người của dân tộc, anh đóng góp
cho Văn Học Việt Nam một công trình văn chương đồ sộ, cho hậu sanh muốn tìm
hiểu về giải đất mới mà cha ông chúng ta đã khai phá, làm nên một vùng đất mới
trù phú, là vựa gạo của cả nước Việt Nam. Và làm nên một nền Văn Hóa Đồng Bằng
Nam Việt Nam. Nhà Văn Sơn Nam vẫn còn sống trong lòng những người yêu văn ông.
Ông già Nam Kỳ vẫn đáng được nhang khói của hậu sanh. Tôi xin thắp nén hương lòng nhớ về anh
trong sự tôn kính vô cùng.
(Sacramento tháng 11/03)
Nhà Thơ Truy Phong
Nhà Thơ Truy Phong: Tên thật là
Dương Tấn Huấn, thuở sinh thời ông là nhà giáo dạy Việt Văn ở các trường trung
học ở Tỉnh Trà Vinh. Ông làm nhiều bài thơ, nhưng nổi tiếng nhứt bài “Một thế
kỷ mấy vần thơ”, sáng tác năm 1956 và đăng trên báo Tiến Thủ cùng năm, sau nầy
đăng lại tên tờ Mã Thương năm 1957. Cơ sở Chim Việt Văn Đoàn in tập thơ “Một
Thế kỷ mấy vần thơ” năm 1970, trong nầy gồm nhiều bài thơ khác của tác giả.
Học trò và mọi người quen gọi thầy là
Thầy Truy Phong, quen dần cho đến nỗi ít ai nhớ tên thật của thầy. Hồi đó thầy
dạy Việt Văn ở trường Trung Học Thánh Gioan, hình như sau nầy
có lúc Thầy dạy hợp đồng cho trường Trung Học bán công Trần Trung Tiên?.
Thầy luôn luôn
mặc bộ đồ trắng, dáng người trung bình,
điềm đạm, tiếng nói nhỏ nhẹ và luôn có nụ cười thân áí, hiền từ. Tôi không phải
là học trò của thầy trong mấy năm học Trung Học ở Trà Vinh, nhưng tôi biết thầy
nhiều qua thơ của thầy. Sau nầy, khoảng năm 1969 anh Phan Công Minh, bút hiệu là Doãn Nhân, phu quân của chị Mai Thị Thu Cúc, cùng một nhóm bạn bè gốc Trà Vinh và
thân hữu thành lập nhóm Chim Việt Văn Đoàn ở Sài Gòn, anh Minh là trưởng nhóm. Trụ sở là nhà của anh
chị Minh, Cúc. Nhóm được Nhà Văn Sơn Nam và Nhà Thơ Kiên-Giang Hà Huy Hà làm cố vấn. Chim Việt liên lạc
thường xuyên với thầy Truy Phong và đã xuất bản cho thầy 4 cuốn: Một thế kỷ Mấy
vần thơ, Trời xanh trước mặt, Thái bình trở lại, Mặt trời lên. Trong thời gian
nầy tôi có dịp liên lạc với Thầy nhiều
hơn. Tôi gọi Thầy là anh Năm cũng từ dạo đó.
Khoảng năm
70 tôi có viết một tập truyện ngắn ”Kẻ Đào Huyệt”, tôi có gởi bản thảo
nhờ anh đọc và cho ý kiến. Tuy
nhiên tập truyện bị Bộ Thông Tin thời đó cấm không cho xuất bản.
Khoảng
gần năm 75, anh bị bịnh và phải vào nhà thương mổ hai lần, sức khỏe anh yếu
luôn từ dạo ấy. Sau năm 75 anh phải rời căn nhà thân yêu ở Thanh Lệ về Cù Lao Quới Thiện lánh mình. Trong thời
gian tranh tối tranh sáng sau ngày 30 tháng 4, một số bạn trẻ, trong đó có
học trò cũ của anh, vì muốn lập công với
“Cách-Mạng” nên định “ đấu tố anh” ...may nhờ một bạn trẻ (HB) khác,
biết tin nầy và
mách cho anh biết. Anh chị và gia đình lui về Cù Lao Quới Thiện sống cho đến ngày cuối đời ở đấy..
Năm 2003,
trong chuyến về lại Việt Nam, tôi và một số bạn bè có đến thăm anh. Lúc nầy anh
mắc chứng bịnh run rẩy tay chân, đi đứng
phải có người dìu. Chị Năm là người vợ tẩn mẩn ( anh thường gọi chị như vậy) duy nhất săn sóc anh. Khi
tôi và anh em đến, chị đang đút bột cho anh trên chiếc
võng mắc ở chái n
ngang. Anh ra dấu cho chị mời mọi người ra nhà trước. Một
lúc sau chị dìu anh ra với bộ đồ tươm tất hơn. Trong dip nầy tôi có hứa với anh
là sẽ lo phần tài chánh để in cho anh toàn Tập Thơ Truy Phong. Tôi biết ước mong của anh là có tập
thơ như vậy. Anh ôm tôi và khóc khi tôi gợi ý đó. Khi trở lại Mỹ, tôi lo chạy kiếm việc làm
(lúc về Việt Nam là lúc tôi đang thất nghiệp). Sau biến cố 11 tháng 9-2002 nền
kinh tế Mỹ đi xuống thảm hại. Tôi bó gối ở nhà không tìm ra việc. Đó là lý do tôi gởi tiền về cho anh có
hơi trễ. It lâu sau, tôi được anh bạn từ
trong nước báo tin anh Năm đã ra đi. Anh mất ngày 8 tháng 5 năm 2005. Tôi ngẩn ngơ buồn. Cho tới nay tôi
không được tin về tập thơ của anh
…Tôi không dám hỏi gia đình về việc nầy vì sợ hiểu
lầm…Tôi vẫn thấy áy náy và ân hận vì đã không thực hiện được tập thơ mà tôi đã hứa với anh
khi anh còn sống. Xin thấp nén hương lòng tạ lổi cùng anh.
Bút tự của Truy Phong
Phần trích đoạn trong 169 câu của
bài
“Một thế kỷ mấy vần thơ”
NỒNG ẤM XỨ KANGAROO
*Thân tặng đồng hương Trà Vinh ở Úc Châu
Chiếc máy bay lượn trên bầu trời ÚC. Từ trên cao tôi thấy trùng trùng
đồi núi lẫn mây mù và cây xanh ở phía dưới.Tôi thực sự nhìn đất ÚC như hình cái
nấm tay đặt trên mặt biển rộng giữa trùng dương bao quanh sóng vỗ. Chiếc máy
bay hạ dần khoảng cách và đôi bánh lăn chạy trên đường băng. Tôi đến đất ÚC vào
cuối thu, mây trời một vùng trong vắt, cái êm ả và nồng ấm của những vạt nắng buổi sớm mai, cái hơi se se
lạnh của buổi hừng đông làm tôi mang cái cảm giác rất lạ khi đặt chân xuống phi
trường Sydney.
Tôi có những đứa em đi vượt biển từ năm 1979, một khoảng cách từ đó đến
nay đã 30 năm, 30 năm
cách biệt rất dài và rất nhớ nhung. Tôi ao ước đến đây để gặp lại những đứa em
của tôi mà trước đây khi đưa các em xuống ghe rời quê hương là vào muôn trùng
hiểm nguy chực chờ ngoài biển khơi, là cách xa miên viễn ngoài tầm uớc ao gặp
lại…! Bây giờ chúng tôi gặp lại nhau, cái ôm thật chặt, những giọt nước mắt
chảy ròng vì bao nhiêu cảm xúc ùa vào tim, tràn lên vòng mắt. Ôi những đứa em
ngày xưa ra đi chỉ là những cậu bé, cô bé nay đã có vợ, có chồng, có con. Tôi
lại có thêm em dâu, em rể, có thêm mấy đứa cháu trai, gái ngoan
hiền. Tôi đứng giữa đàn em cháu, nghe lòng mình chứa chan hạnh phúc, cái hạnh phúc thật tuyệt diệu! Ân sủng
nầy như
một nhiệm mầu mà Phật Trời ban cho chúng tôi! Chúng tôi cám ơn ba má
ngày xưa đã quyết định, đã cắt lòng chia xa để anh em chúng tôi có được cuộc
sống tốt đẹp như ngày hôm nay.
Tôi có những ngày
đi đó, đi đây trên đất Úc hiền hòa êm ả. Tôi gặp lại những người thân, những
bạn bè, những người ngoài phố. Tất cả mọi người mà tôi gặp gặp gỡ đều rất thân
tình nồng ấm. Tôi có cảm giác tất cả mọi người ở đây là bà con ruột rà với
nhau. Các cháu nhỏ gặp tôi khoanh tay cuối đầu dạ thưa kính cẩn như ở quê nhà,
khác với nơi tôi ở ít thấy các cháu chào hỏi người lớn như ở đây. Tôi nghĩ có
lẽ đời sống đất Úc được bảo đảm hơn, cộng đồng không lớn lắm và mọi người Việt
sống gần nhau, cho nên thân tình gắn bó nhau hơn, gìn giữ tập quán quê nhà dễ
hơn.
Những ngày
ở Úc, xứ sở của Kangaroo, tôi được các em tôi chở đi thăm các nơi. Cái mà tôi
mong ước đầu tiên là muốn được nhìn tận mắt con Kangaroo. Đi thăm Featherdale
Wildlife Park,
chúng tôi sờ đầu
con Kangaroo hiền hoà, đứng chụp hình bên cạnh con cù lần Koala đang nhai lá
bạch đàn. Khung sở thú không lớn lắm nhưng cũng đủ để nhìn những giống vật mà chỉ
có ở nước Úc. Chúng tôi ăn cơm tại chỗ với mùi khăm khẳm của giống vật ở
đây.
Mùa thu đã
tàn trên vùng Canberra, nhưng mây trời
còn trong vắt, cơn mưa nhẹ từng hồi chợt đến rồi đi qua. Một chút nắng vàng ửng
lên cho ngày đi bộ quanh bờ hồ với nhiều cây lá vàng bao quanh thật thú vị. Một
cặp thiên nga đang âu yếm ven hồ. Tôi cặp tay vợ tôi nhờ đứa em chụp một bức ảnh lưu niệm với đôi chim. Mọi
người đồng tình với tôi cùng chụp hình với đôi thiên nga thân thiện bên bờ hồ,
có vài con hải âu vờn bay ngoài xa.
Khi tôi đến mùa thu vừa mới hết
Lá rụng đầy đường vắng gió se da
Nắng lung linh vài chiếc rớt ven hồ
Bầy chim trắng vờn bay là mặt nước
Hình như hồn tôi không giữ được
Nhẹ bay theo cánh chim nhỏ lên trời
Chúng tôi đến Brisbane, đi chân trần trên bãi biển
Goldcoast. Bờ biển cát trắng pha một ít vàng chạy dài xa tít đến bờ núi mù mù.
Nước trong xanh từng hồi sóng cuộn cuốn vào bờ. Tôi hít thật mạnh, thật sâu mùi
biển gió trong lành và nhìn những cô gái bản xứ đẹp xinh đang đùa với sóng nước
hay đi từng cặp trên bờ biển, hoặc nằm phơi nắng trên bãi cát nắng chói chan.
Tôi đang bình yên sảng khoái với bờ biển Gold Coast mong ước từ lâu.
Sau một vòng đi Brisbane, chúng tôi trở lại Sydney tránh được
cơn bão vừa kéo đến ở đó. Xe chạy lên cao, lên cao: Blue Mountain. Tôi nhìn
giải trời mây xanh xanh trên cao, vòng quanh đồi núi và xuống vực thẳm sâu,
nghe tiếng gió và tiếng con suối chảy rì rào đâu đó không thấy. Hình núi ba cô
gái chơ vơ một góc, trờ ra ngoài như muốn níu rừng mây. Chiếc cầu treo chở
chúng tôi ra giữa rừng bạt xanh phía dưới và dừng lại ở giữa. Bây giờ tôi mới
thấy dòng suối đổ từ trên cao chạy xuống triền trắng xoá ở một vài đoạn, nghe
rào rào dưới lủng sâu bên phải. Một ngọn núi mọc nhô cao bên trái, chơ vơ giữa
màu xanh cây lá, gần đó cũng ở phía triền núi, một toa tàu leo từ từ phía rừng
cây xanh đi lên như con rắn trườn quấn thân cây. Đứng giữa cái hùng vĩ bao
quanh, tôi chợt thấy mình nhỏ như con kiến đang trên sợi dây đu đưa. Chiếc lồng rướn vào bờ bên, chúng tôi đi lên và men theo con đường từng bậc thấp
dần và quanh co trong khu rừng cây không cao lắm nhưng cũng đủ cho tôi cảm nhận
mình đi sâu và ẩn vào cây xanh bao quanh, có lúc đi ra, nhìn bờ thẳm sâu, ở
dưới rất hẩm vực. Tôi có gần một giờ với bạn bè lẫn vào thiên thâm rừng vắng
với vài tiếng chim, tiếng gió vi vu. Tôi thấy mình hòa vào thiên nhiên như một
thời nào đó của tuổi nhỏ ở quê nhà đi
trong rừng đước, rừng tràm.
Điểm thứ hai mà chúng tôi không thể bỏ qua được
là Nhà Con Sò Opera House. Ảnh hưởng cơn bão ở Brisbane, hôm đến nơi đây, trời mờ áng mây mưa. Được một chút
nắng chợt đến, chúng tôi chụp ảnh, quay phim, mọi người đi tham quan đổ ùa ra
ngoài, đi lên từng bực dốc nhà Opera House. Đứng trên cao nhìn về phố lầu
cao tráng lệ, nhìn vòm cầu Harbour bắt vòng hùng vĩ, có một vài đoạn trên cầu
nhô lên cổ tháp nóc hình mũi tên, chĩa thẳng lên khoảng không mù mù mưa nhẹ.
Lên tàu đi Manly, tàu lướt biển trong vùng
vịnh gió lộng, tàu ngang Opera House, tàu xa xa và xa dần phố biển. Đến vùng giáp nước, mưa đổ ào, sóng đưa
con tàu ngả nghiêng. Tàu ghé
bến, tàu lại ra đi, cuối cùng tàu đậu bến Manly. Chúng tôi đi tản bộ ra biển. Biển sóng ầm ào,
mưa rơi nặng hạt. Tôi ngồi trong căn nhà bên bờ biển nhìn sóng vỗ trắng vào bờ
. Bầy hải âu bay trắng như màu bọt sóng vỡ trên một góc mỏm núi nhô ra ngoài
biển.
Trời
như chiều khách phương xa, mưa thôi rớt hạt, trời ửng màu hồng dễ thương. Chúng
tôi đáp chuyến tàu đi về phía City. Lên bờ, đánh vòng ven bờ nước, nhìn cây cầu
bắc ngang sông và dọc bờ sông
nhiều cờ màu phất phới bay. Hôm nay
ngày sinh nhựt thứ 21 ngày trùng tu phố biển? Laị chụp hình, quay phim lưu
niệm. Buổi tối hối hả về trạm xe điện với mớ đồ mua ở phố Tàu (Market City có
từ năm 1909) .
Những
ngày sau đó là những ngày anh em bạn hữu mời tới nhà dùng cơm trưa, cơm tối. Ở
đâu cũng rộn rã tiếng cười, cụng ly chúc tụng, ngày ngày nối nhau không dứt “Rượu uống trùng phùng ly rót cạn, muôn giọt
ân tình ngấm lòng say”.
Ngày cuối
trước khi về lại Mỹ, tôi được mời tham dự bữa cơm Tình Nghĩa do nhóm thân hữu
Thiện Nguyện Trà Vinh tổ chức tại Nhà Hàng Hòa Bình nhằm mục đích chia xẻ với
Hội Từ Thiện Úc đã có thiện tâm giúp đỡ Cháu Khang, một em bé bị phỏng nặng đến
80% từ Việt Nam sang Úc, hiện cháu đang điều trị tại Perth. Buổi cơm được bảo trợ bởi Bán Tuần
Báo Việt Luận, Công Ty Du Lịch PT. Mini Bus Tour. Nhân dịp nầy tôi rất vui sướng được đóng góp cho buổi gây
quỹ hơn 50 tập thơ trong 100 tập thơ Nỗi
Buồn Còn Đó mà tôi mang từ Hoa Kỳ sang. Sách được đồng hương Trà Vinh mua ủng
hộ chỉ trong vòng vài phút là hết, có một số bạn hỏi để mua ủng hộ thêm, nhưng
rất tiếc sách đã hết, vì trước đó tôi đã tặng cho gia đình các em tôi và thân
hữu
Buổi tiệc diễn
ra trong tinh thần thân hữu đầm ấm của những đồng hương Trà Vinh và một số bạn
hữu xa gần quen biết với người Trà Vinh. Tôi được gặp lại các bạn tôi lúc còn
học với nhau từ Tiểu Học, Trung
Học. Tôi gặp lại nhiều đồng hương thân
thương Trà Vinh, ai ai cũng nồng ấm chuyện trò, nói hoài không hết chuyện. Bất
ngờ nhứt là tôi gặp lại người bạn Sĩ Quan trong
Binh Chủng Nhảy Dù mà trước đây tôi nghe tin anh đã chết:
Anh Nhuận, người bạn học hồi đó ở trường Trần Trung Tiên, cũng là một chiến hữu
trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị thương trong trận Hạ Lào năm xưa .
Gặp mầy tao
tưởng như mơ
Người từ cõi
chết bất ngờ còn đây!
Gặp mầy, như gặp
lại tao
Mấy năm hào khí
thuở nào binh đao
Mầy thằng mũ
lệch đỏ ao
Tao thằng lính
bộ, kéo nhau mấy chầu
Rượu vào máu
nóng hừng đầu
Nghênh ngang
ngoài phố, mệt đừ động đêm
Sáng ra hai đứa
còn hăng
Rủ vài đứa nữa uống thêm say nhừ
Mai đi bỏ phố
lên rừng
Đứa còn đứa mất
trong tầm đạn reo!
Hồi đó
là vậy, bây giờ ra nước ngoài được ung dung với cuộc sống mới. Hai đứa gặp nhau
mầy mầy, tao tao ở cái tuổi hơn lục
tuần con cháu đầy đàn vẫn nghe ấm làm sao đó! Cám ơn nước Úc, cám ơn người đồng
hương ở đây đã cho tôi có một dịp hội ngộ kỳ diệu!
( Sacramento 24/5/2009 )
SÀI GÒN NÓNG
Hơn 20 năm xa quê,
tôi ít khi trở về Việt Nam trừ khi có việc cần về thì mới thu xếp về. Vợ tôi vì
có nhu cầu với nhiều lý do gia đình như mẹ vợ tôi đau, chị hoặc anh tôi đau hay
cưới hỏi…Bà ấy về Việt Nam cứ như cách năm. Mấy lần đầu thì kệ nệ nhiều thứ.
Sau nhiều lần thì vợ tôi nói : “Mang về Việt Nam nhiều thứ làm chi cho mệt, ở
Việt Nam bây giờ cái gì cũng có, chỉ cần mang tiền về thì khỏi lo kệ nệ cho mệt
xác …còn bị các Ông Hải Quan kèo kọ đòi tiền lót trong các Passport mới yên
thân”.
Năm nầy tôi được báo
tin sắp có đám cưới đứa cháu kêu tôi bằng bác. Tôi muốn về, luôn thể xem lại
khu nghĩa trang gia đình mà em gái tôi
về lo xây sửa xong năm vừa qua, coi có cần bổ túc thêm gì không? Tôi nói với vợ
tôi: “Năm nầy chắc tôi phải về một
chuyến…lâu quá không về …về dự lễ cưới trước Tết vài ngày và sau đó ăn Tết tại
quê nhà thử một năm xem sao. Từ ngày xa xứ tới giờ có hơn hai mươi mấy năm chưa
có lần ăn Tết ở Việt Nam….vả lại anh
em bà con cũng già yếu hết rồi, thăm nhau một chuyến nầy …chắc gì chuyến tới
còn đủ mặt. Dịp đám cưới họ hàng qui tụ lại,
khỏi phải đi thăm hỏi từng nhà…”. Bà ấy làm thinh không nói gì…nhưng
tôi đoán ý bà ấy cũng muốn về với tôi. Thường các bà kháo với nhau: “Đừng để các Ông về Việt Nam một mình…?”
Tôi nghĩ vì dự đám cưới đứa cháu nên về có đôi hay hơn và có bà ấy theo thì
chắc bà ấy yên tâm hơn. Tôi gợi ý: “Bà có
muốn về với tôi không? Vợ tôi nhoẻn miệng cười…”Tôi chờ ông hỏi đó...!”
Thế là chúng tôi chuẩn
bị cho chuyến về Việt Nam. Từ đây đến lúc về còn hơn 6 tháng.Tôi lên Net mua
vé. Làm chương trình xin nghỉ phép dài hạn ở chỗ làm. Bà xã tôi mua từ từ các
món cần thiết? Cho tới vài ngày trước ngày khởi hành. Bốn cái Vali gởi đầy
nhóc. Cân đi cân lại quá tải…Muốn thêm cái nầy, muốn bớt cái kia…Cái nào thấy
cũng cần hết. Vợ tôi kệ nệ nào là xà bông tắm, nào là thuốc bổ…
Tôi vừa cân kéo nhọc nhằn
vừa nói:
-Bà nói không cần
mua đồ….thế mà…vẫn đầy ra đó.
Vợ tôi cười:
-Chỉ là các món cần
thiết…! Xà bông ở Việt nam không thơm, thuốc ở Việt Nam thường làm giả…?!
Mồ hôi mồ kê ra ướt áo bởi phải cân kéo lên, bỏ xuống 4 cái vali nặng
nề. Bà xã tôi cẩn thận:
-Phải cân kỹ cho đủ 25
ký, coi chừng dư... bị phạt uổng tiền lắm đó!
Tôi lục đục cân đo. Cuối
cùng tôi đẩy bốn chiếc 4 vali nặng trịch qua một bên. Tôi bật ra giường nằm thở
dóc…Ôi! Tội nghiệp cái lưng già của tôi nó đau nhói. Con mắt tôi nhìn lên trần
nhà thấy đơm đớm sao bay!!! Vợ tôi nói:
“Anh mệt hả…cứ nằm nghỉ đi…mà anh xem kỹ… cân đủ chưa vậy…?”. Tôi nằm làm thinh!
Mùa đông mới tới, thời
tiết lạnh căm căm. Mây ngoài bầu trời như chì nặng xám.Tôi nhìn bầu trời loe
loé vài vệt nắng vàng…vài cánh chim bay về phương trời xa tít. Tôi mơ màng một
ngày về quê ăn Tết…Những ngày Tết năm xưa…Ôi vui thật là vui…!
Chiếc máy bay hạ dần độ
thấp…Tiếp viên Hàng Không nhắc nhở mọi người cài thắt dây an toàn. Tôi nhìn ra
qua khung cửa sổ máy bay. Một vùng mây đục xám. Bây giờ chiếc máy bay đang ở
trên không phận Việt Nam. Trời chập tối. Máy bay hạ dần. Tôi nghe ù ù trong lỗ
tai…Một vài cơn xốc nhẹ…Máy bay nghiêng cánh. Tôi thấy nhiều ánh đèn lấp loé
phía dưới. Tôi sắp đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt.. Tôi thực sự đặt chân
xuống quê mình trong vài phút tới… Đèn phía dưới rực sáng hơn. Tôi thấy những
con đường lớn với hàng dài xe đủ loại như đàn kiến đang bò nhanh phía dưới… Sân
bay hiện ra. Những ụ đất ngày xưa làm phòng tuyến an ninh còn rải rác…những bãi
cỏ lém nắng vàng còn nhấp nhô lên những mảnh vụn của một thanh sắt rỉ hoặc một
phần nhỏ của một bộ phận nào đó của một chiếc xe GMC nhà binh. Đã 38 năm…chiến
tranh đã dường như bị quên lãng. Nhưng dấu vết chiến tranh vẫn còn đâu đó quanh
đây. Còn trong đầu tôi…còn trong đầu của người chiến thắng... Chiến tranh bao
giờ thực sự được quên trong đất nước và con người Việt Nam.
Chiếc máy bay chạy
dần về phía chỗ đậu. Chiếc máy bay tắt hẳn động cơ. Một sự im lặng mơ hồ trong
lồng phi cơ. Tôi lần lượt đi theo mọi người ra ngoài. Vừa ra khỏi lồng phi cơ,
cái nóng ùa chụp phả vào người…tôi vội cởi bỏ thêm áo, mặc dù tôi đã bỏ đi
chiếc áo khoác trước đó vài phút…
Đứng xếp hàng chờ
Hải Quan kiểm soát. Tôi nhìn vào các khung chờ. Các nhân viên Hải Quan với
gương mặt lầm lì…đôi lúc nhìn lên xoi mói một vài người nào đó. Tôi có cái cảm
giác mình bắt đầu đi vào cửa của một vùng trấn áp…Trấn áp từ mọi phía…! Cơn
nóng bức làm tôi rịn ướt mồ hôi sau lưng…Tôi mơ hồ lo sợ một điều gì đó không
rõ lý do có thể đến với mình. Một tên lính “Ngụy” về nước…
Đến lượt tôi bước
đến Khu Vực Trình Xét. Tôi đưa passport…Tên Hải Quan nhìn tôi sau khi mở
passport…Tôi đoán mò chắc hắn không thấy tôi lót tiền trong ấy chăng? Một phút
trôi qua, hắn áp sổ thông hành của tôi lên khung máy…hai phút trôi qua…Tôi bình
tĩnh nhìn vu vơ vào khung máy…Hắn ngả lưng ra ghế và nói với tôi: “Anh chờ tí nhé, Cái máy hôm nay quét chậm quá…”
Vợ tôi nhìn tôi lo
lắng…Một vài chị trọng tuổi người miền Nam xếp hàng kế bên nói nhạo giọng Bắc:
“Các Anh ơi! Em chờ các anh gọi em tới mà
sao các anh chẳng gọi em… thế lầy là thế lào…”. Vài viên Hải Quan ngước lên
nhìn chị và cười. Cái không khí nằng nặng dường như trôi qua. Cuối cùng tên Hải
Quan đưa lại giấy thông hành cho tôi…
Nóng trùm phủ cả không
gian tôi đang đứng chờ để lấy hành lý…Tôi thực sự đã đặt chân vào Sài Gòn…Sài
Gòn nóng…! Cơn nóng trùm kín người tôi. Cơn nóng muốn cháy thịt da tôi. Tôi có
cảm giác tôi đang đi vào lò nung…Lò nung của Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa…!
Cái háo hức về quê ăn
Tết, về quê nhìn lại anh em, bà con ruột rà, về quê nhìn lại làng xóm nơi mình
lớn lên…Tôi bỗng nghe nghèn nghẹn trong cổ…! Cái bước đầu tiên nơi đặt chân đến
làm hoa đôi mắt, làm khản khát nơi cổ họng. Giây phút ấy trôi qua. Tôi chợt
mừng vui khi thấy các em, các cháu tôi đứng vẫy tay bên ngoài… Chúng tôi đẩy
nhanh chiếc xe đồ đến chỗ người thân và ôm chầm lấy từng người. Hình như tôi
quên hết cái nóng hừng hực nơi phía ngoài nầy vì niềm vui trào dâng muốn rơi
nước mắt, vì những trái tim cùng hòa nhịp tình thân ruột rà. Ôi! Đây mới là
giây phút ấm áp, đây mới thật sự là động lực làm tôi muốn quay về…!
Ra khỏi sân bay Tân Sơn Nhứt, chiếc
xe chở chúng tôi vào luồng xe chật ních trong thành phố. Các xe Honda chạy dọc,
chạy ngang, lao lách vô tội vạ…Tài xế phải bóp còi inh ỏi. Mồ hôi tôi lại rịn ướt
sau lưng vì tốc độ xe chạy chậm với lại cái máy lạnh của xe bị trục trặc, lúc
có, lúc không. Cái nóng bên ngoài ép vào lòng xe…Chiếc xe len chạy trong ngổn
ngang của cái nóng trên đường. Tới ngã tư, ba bốn tên Công An Giao Thông thổi
còi bắt xe không tuân thủ luật lệ…Chiếc xe chúng tôi vừa qua nửa đường ngã tư.
Một tên công an cầm gậy chỉ về hướng xe chúng tôi, một tên khác bắt xe chúng
tôi dừng lại. Chú tài xế nói: “Tết…tụi nó
kiếm tiền ăn Tết”. Xe tấp vào lề. Tôi hỏi chú tài xế xe mình bị lỗi gì?.
Chú cầm chiếc cặp giấy tờ xe và kẹp vào đó giấy một trăm ngàn tiền Việt Nam và
nói: “Tụi nó đòi tiền ăn Tết chớ xe không
có lỗi gì đâu chú”. Tôi ngao ngán nhìn chú tài xế. Chú mở cửa xe và bước
xuống đi đến chúng để trình giấy tờ. Vài phút sau chú tài xế quay lại xe. Tôi
hỏi: “Nó cho đi hả chú. Chú tài xế
lắc đầu. Tụi nó nói: “Tết gần đến rồi mà
chung chỉ có một Xị (Ám chỉ 1 trăm ngàn)” Chú tài xế nói:”Chắc phải thêm cho đủ 2 Xị. Đúng như
lời chú tài xế nói. Sau khi lấy 2 trăm ngàn, chúng cho xe tiếp tục chạy. Chú
tài xế cho chúng tôi biết thêm là tụi nó thường nhìn các bảng xe từ dưới các
tỉnh lên Sài Gòn đón rước khách nước ngoài về, hoặc khách du lịch. Để tránh rắc
rối và chờ đợi, các người mướn xe thường cứ kêu tài xế chung tiền để khỏi phải
mất thời giờ…Nếu không chung cho tụi nó thì nó hoạnh hẹ tìm ra mọi cớ để giữ xe
hoặc đưa vụ việc về Cơ Quan Công An thì còn phiền hơn nữa… Chú thở dài…cũng may thường các vị khách bao đều trả cho tụi tôi khoản tiền nầy. Tôi định
bụng sẽ chi trả lại cho chú về khoảng tiền vô tội vạ nầy khi về đến quê. Chú
tài xế nói: “Lệnh trên không cho tụi Công
An Giao Thông có tiền mặt trong túi hơn 5 trăm ngàn, nhưng trong cốp xe của tụi
nó lúc tan ca thì tiền cỡ gần bạc tỉ đó
chú ơi!”
Cơn nóng trên đường
như nhét vào đầu tôi nỗi nhức nhối buồn đau cho những người dân thấp cổ bé
họng, cho những mảnh đời cơ cực dưới sự cai trị của một tập đoàn Ăn Cướp từ
trên xuống dưới. Họ sống trong những dinh thự hoành tráng, nhung lụa phủ phê.
Họ đi trong những chiếc xe bạc triệu đô la…Họ ăn mặc sang trọng. Họ du hí thừa
dư. Họ đưa con cái ra nước ngoài. Họ mua nhà, đầu tư ở ngoại quốc…Họ chia nhau
đáp cánh an toàn…! Tiền từ đâu??? Ôi! những công bộc, đầy tớ của nhân dân…!
“Nắng Sài Gòn…em đi mà chợt mát
Bởi vì em…mặc áo lụa Hà Đông
Tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”
(Nguyên Sa)
Ôi! Cái nắng Sài Gòn dịu
mát...Cái nắng hoàng kim soi bước em đi trên hè phố. Cái nắng hồng hào da thịt
con gái buổi sớm mai. Cái nắng môi son của những thiếu nữ giữa sân trường. Cái nắng ấm trông mắt nhìn ai xuyến xao vời
vợi …Cái nắng hực hở môi kề, má áp một thuở yêu người….Hết rồi cái nắng năm
nao….! Nắng bây giờ đổ lửa toát mồ hôi. Nắng đang thiêu đốt da thịt mọi người
chạy tất bật trên đường. Nắng làm tôi ngộp thở trong cơn buồn vỡ vụn!
Chiếc xe thoát ra đến
Phú Lâm, Bình Chánh, trước đây khu vực nầy hoang trống với những thửa ruộng
chia khuôn, mút mút màu xanh của lúa. Bây giờ là những dãy nhà liền nối ngổn
ngang, cái cao, cái thấp, xen lẫn những tòa cao ốc chỏi trời. Các cửa hàng ăn
uống, các thương hiệu bán buôn che khuất màu xanh của những thửa ruộng lùi dần
về phía sâu, có nơi như mất hẳn. Xe rẽ chạy vào đường Cao Tốc. Tôi cảm thấy dễ
chịu hơn vì hai bên đường có cây xanh, có ruộng lúa. Chú tài xế nói với chúng
tôi: “Trên con đường nầy cũng dễ bị bọn
công an núp bắn tốc độ. Khi bị bắn tốc độ thì phải chung tiền cao gấp nhiều
lần…khoảng vài triệu đồng. Nếu không chung tiền cho chúng thì tài xế bị treo
bằng lái…Làm nghề tài xế mà bị treo bằng lái thì cả nhà đều bị đói chú ơi…! “
Tôi nhìn ra bên ngoài
cố hình dung lại các khoảng đường ngày trước tôi đi qua, nhưng không đoán được
gì cả. Hồi còn đóng quân ở Quận Bến Tranh khi về lại Sài Gòn tôi nhớ mình đi
ngang Long An, rồi Bến Lức…Tôi hỏi chú tài xế:”Mình tới Long An chưa? Mình qua
cầu Bến Lức chưa?” Chú tài xế chỉ tay về bên trái….”Phía trong kia kìa chú. Mình đi trên đường Cao Tốc nên không qua các
chỗ ấy, đường được làm phía ngoài
không qua các thị trấn đó”.
Rồi xe vào Ngã Ba Trung Lương. Nơi
đây bây giờ lạ hoắc. Phố nhà chật ních…Xe rẽ vào Mỹ Tho. Xe không còn dừng lại
để nghe tiếng gọi mời của các em bé bán mận Hồng Đào, ổi xá Lị, bánh mứt. Thay
vào đó là các cửa hàng trưng bày bánh kẹo, trái cây đủ loại. Ngã Ba Trung Lương
bây giờ là một ngã ba phố. Xe vào thị
Xã Mỹ Tho. Xe qua cầu Rạch Miểu. Xe chạy qua cầu Hàm Luông. Xe xuyên Tỉnh Bến
Tre. Xe rẽ về Cái Mơn, Chợ Lách…Xe chờ qua Bắc Cổ Chiên. Xe chạy thêm hơn tiếng
nữa. Xe đỗ lại quê tôi. Đoạn đường về lần nầy không qua Cầu Mỹ Thuận, không qua
Vĩnh Long, không qua Lồng Hồ. Khoảng đi thu ngắn hơn 60 kí lô mét.
Suốt dọc đường hình như
nhà cửa mọc lên dầy kín…vườn tược, cây trái bị đẩy lùi về bên trong. Người dân
vùng quê chường ra mặt đường với những hàng quán: Trạm Xăng nhỏ, quán ăn, quán
cà phê võng, nhà trọ…Gần các thị trấn thì có thêm chỗ nghỉ tắm hơi, massage,
quán nhậu, tiệm uốn tóc…Bề mặt của thành phố, bề mặt của những con đường đầy vẻ
phồn hoa sung mãn. Những phía sau là gì? Là những ngõ hẹp ngập nước. Những mái
nhà xiêu vẹo, những mảnh đời cơ hàn lê kéo cuộc đời không có ngày mai. Những bà
mẹ bán con cho người nước ngoài. Những em gái 18, 20 làm bé cho các đại gia,
hoặc làm gái gọi, gái bao. Đa số các em gái đã tự nguyện hiến thân mình để cứu
nợ nghèo cho gia đình. Rồi qua cơn lưu lạc các em bị cuốn vào dòng “nham nhở
cuộc đời” với phồn hoa đầy cám dỗ ở các thành phố. Những cậu em mài lưng trần làm thuê, làm mướn
hoặc ma cô, ma cạo để tìm miếng ăn qua ngày. Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam
một trời một vực.
Qua những ngày về quê thăm
bà con, dự đám cưới.Tôi cùng các em tôi làm một chuyến du hành về Phan Thiết,
Bà Rịa, Long Hải, Vũng Tàu…Chúng tôi qua các khách sạn, quán ăn. Chúng tôi mới
thấy sinh hoạt ở Việt Nam không phải rẻ mà đắt đỏ. Chúng tôi đã gặp những người
dân mỗi ngày lao nhọc chỉ kiếm chừng vài trăm ngàn, các em bán vé số cũng chỉ
hơn trăm ngàn. Lương công nhân mỗi tháng chừng hơn 2 triệu. Các con cháu chúng
tôi thấy các quán ăn Burger King, KFC, McDonald là nhào vô vì chúng quen hơi
các món ăn nầy. Mỗi chiếc bánh sandwich giá 170 ngàn đồng, 3 miếng thịt gà ở
KFC giá 190 ngàn đồng. Khi vào đây chúng tôi ngỡ chắc vắng khách vì giá quá cao
so với đồng lương mọi người…Nhưng lạ thay các cô ấm, cậu ấm ngồi ăn đầy…có cả
mấy người lớn nữa.
Qua những ngày luồng lấn
cùng người bạn thân ở Sài Gòn vào các tụ điểm cà phê, ăn nhậu…Tìm hiểu qua
những câu chuyện trao đổi tình cờ, tôi mới thấy bọn nhà giàu, các quan chức,
các cậu ấm nhà quan…phung phí tiền bạc một cách vô tư. Một buổi ăn với
rượu đắt tiền có hơn ngàn đô cho vài người. Chúng đi trên những chiếc xe hiệu
nhập từ bên ngoài như: Mercedes, Lexus, Acura… Nhà chúng nó là những ngôi biệt
thự hoành tráng kín cổng cao tường. Nguồn tiền của bọn họ từ mọi cách ăn cướp
có bảo chứng, từ gian lận mưu mô, từ cửa quyền chức tước. Trung ương ăn theo
cách trung ương, tỉnh, huyện, làng, ấp ăn theo kiểu tỉnh huyện làng ấp. Khẩu
hiệu “Nhân Dân đi trước, Nhà Nước theo sau” hoàn toàn là ngụy ngôn lừa bịp.
Trên đường xuôi ngược:
Những chiếc xe Honda rẻ tiền của các công nhân đi làm xen với những chiếc xe
hơi bóng nhoáng. Những người gù lưng ướt áo trên đường bên những người ngả lưng
trên chiếc ghế nhung trong chiếc xe hạng sang. Những ngôi nhà mái tôn xen những
cao óc chỏi trời… Những ngõ hẻm ngập nước, những mái nhà tôn rỉ xét thâm
đen…những mùi hôi thối nồng nặc của cống rãnh đen ngòm…Che lớp bên ngoài là
những cửa hàng sang trọng với mùi nước hoa thơm lừng. Ở khắp mọi nơi: hiện rõ,
lẫn lộn hai thế giới giàu nghèo cách biệt thật lớn lao.
Sài Gòn với tôi trong
chuyến về nầy là những cơn nóng buồn phả vào mặt, lẫn vào hồn, những bụi cát
len vào lưng, rơi vào mắt… mờ mờ nhân dạng. Đi đâu cũng thấy các khung vải đỏ
với chữ to “Mừng Xuân, Mừng Đảng Quang Vinh”. Ôi! đúng chỉ là mùa Xuân của
đảng, còn nhân dân thì đã mất hết mùa Xuân từ ngày có Đảng cai trị. Khi Đảng
làm sai, các ngài làm sai, nhân dân đứng lên phản đối thì các ngài quy chụp họ
là phản động, nghe theo lời xúi dục của các thế lực thù địch bên ngoài. Đảng
chưa bao giờ nhận làm sai, các ngài chưa bao giờ dám nhận tội về việc mình làm
sai, làm trì trệ bước tiến của dân tộc. Tôi đoan chắc rằng không có thế lực bên
ngoài nào đủ mạnh để lật đổ được chế độ của các ngài (Lực lượng người Việt hải
ngoại). Chỉ có nhân dân trong nước, chỉ có những người trong hàng ngũ các ngài
đứng lên chống lại các ngài. Thưa các ngài:
“Bao giờ các ngài mới từ bỏ quyền lực…để cho nhân dân Việt Nam thực sự có mùa
Xuân NHÂN QUYỀN-TỰ DO-HẠNH PHÚC-ẤM NO thực sự? Bao giờ? Xin các ngài hãy
sáng suốt nhường quyền cho một vận hội mới thì cái họa mất nước trước bọn giặc
Tàu sẽ được cứu vãn. Cơ may đất nước mới thực sự vươn mình trổi lên ngang hàng
với các nước tiến bộ trên thế giới. Các chất xám của thế hệ thứ hai, thứ ba của
thuyền nhân Việt Nam trên toàn thế giới cộng với chất xám của tuổi trẻ trong
nước sẽ là chiếc đũa thần đẩy đất
nước đến chỗ vinh quang thật sự. Các ngài sẽ còn có chỗ đứng trong lòng
nhân dân Việt Nam. Các ngài nghĩ sao???”
Về quê ăn cái Tết nhạt
nhẽo. Một cái Tết mà tôi mong muốn được về hơn 20 năm. Thế mà Tết đến tôi nằm
co ro với mồ hôi ướt áo. Trong đêm trừ tịch tôi chờ nghe tiếng pháo…Nhưng
không…! Nhà nước cấm dân đốt
pháo, nhưng đã bỏ ra cả tỉ đồng để bắn pháo bông. Cả tỉ đồng lẽ ra giúp cho các
gia đình nghèo có một ngày xuân đầm ấm, các cháu nhỏ có được một trang phục
mới. Trên bàn thờ nhà nghèo có được miếng bánh, dĩa trái cây.
“Sài Gòn ơi! Tôi mất người
như người đã thay tên”…Tôi trả cái nóng lại cho Sài Gòn. Tôi trở về Cali nắng
ấm. Người cảnh sát Hải Quan tại Phi trường San Francisco nhận cái Passport từ
tay tôi với nụ cười và câu nói: “Well come back to United State”.
Tôi nghĩ trong đầu: Tôi đang trở về nhà, nơi chốn thực sự có Tự Do-Dân
Chủ -Nhân Quyền.
(Sacramento
Tháng 2 năm 2013)
LAN MAN ĐÊM GIAO THỪA Ở CALI
Đêm giao thừa năm nay rơi vào ngày
thứ năm, ngày hôm sau phải đi làm…. mà có đi làm hay không thì đón giao thừa
năm nào cũng vậy, chỉ có hai vợ chồng tôi thôi.Thường giao thừa là lúc nửa đêm,
hai đứa con còn ở chung với vợ chồng tôi thì đi ngủ sớm, đứa thì lo đi làm, đứa
thì lo đi học sáng hôm sau. Mấy đứa khác thì ở riêng. Chúng nó cũng đi ngủ
sớm.Tết với tụi nhỏ giống như ngày thường, chỉ có người lớn thì quan tâm và cố
gắng duy trì trong chừng mực nào đó có thể làm được. Cộng hưởng với sinh hoạt
của của xã hội Mỹ, mọi người phải chạy theo vòng quay không thể dừng lại được.
Tuy nhiên gần Tết mọi người cũng phải cố gắng bỏ chút ít thời gian để lo chuẩn
bị đón Tết.
Đêm Giao Thừa vợ tôi chuẩn bị mâm hoa quả: Cầu-đủ-xoài thêm chậu bông,
nhang đèn chờ 12 giờ khuya để cúng Giao Thừa. Có năm tôi mua thêm vài phong
pháo để đốt cho vui. Quanh xóm có nhiều gia đình người Việt. Gần nhất là nhà
đối diện với nhà tôi cũng là người Việt. Đêm Giao Thừa tiếng pháo hai nhà nổ
vang và quanh đây đâu đó pháo cũng nổ đì đùng ở các nhà người Việt. Sau vài
phút tiếng pháo dứt nổ. Chúng tôi nói với nhau: “Chúc mừng năm mới” …rồi thôi.Vợ tôi lâm râm với ba cây
nhang khấn vái đất trời ngoài bàn thờ đặt trước cửa chính.Tôi cầm sẵn hai ly rượu vang chờ khi vợ tôi cúng xong cùng
nâng ly chúc mừng sức khoẻ cho nhau. Gió lạnh thổi tạt vào người buốt lạnh.
Chúng tôi khép cửa vào bên trong thấp nhang trên bàn Phật và bàn thờ ông bà,
cha mẹ. Hai chiếc bóng ngồi lặng lẽ nhìn nhau…đôi khi tôi nhắc với vợ tôi vài
câu chuyện nhỏ về Tết ở quê nhà. Những câu chuyện cũng ngắn gọn…rồi thu xếp bàn
cúng cùng đi ngủ vì ngày mai mùng 1 Tết, chúng tôi phải đi làm, mỗi người một
công việc. Mấy chục năm qua…mỗi giao thừa dường như là như vậy. Lặng lẽ hai
chiếc bóng già cố níu giữ lại một phần nào đó của tập tục Tết quê nhà. Đôi khi
ngày mồng 1 rơi vào thứ Bảy hoặc Chúa Nhật thì khi cúng cơm ông bà chúng tôi
kêu các con đến thắp nhang trước bàn thờ và nói đôi điều về tập quán Tết ở Việt
Nam. Tụi nhỏ nghe là nghe vậy chứ chúng chẳng thiết hỏi han về tập tục đó vì
chúng không quan tâm cho lắm…ba đứa lớn sinh ở Việt Nam thì chỉ lờ mờ nhớ vài
điều gì đó,còn thằng út sinh bên nầy thì cứ ngẩn ra chẳng biết gì hết. Tôi chợt
nghĩ…rồi kế tiếp các thế hệ sau chắc sẽ mất luôn. Nghĩ mà buồn. Buồn rơi nước
mắt…!
Tết Cali có tổ chức Hội Chợ Tết cho
cộng đồng vui chơi. Thường thì các cụ cao niên và trung niên đứng ra tổ chức
với sự tiếp tay của một số bạn trẻ qua đây lúc tuổi đủ để biết và nhớ về Tết
Việt. Người lớn dắt trẻ em vào đó đi lòng vòng trong khu Hội Chợ ăn uống, nghe
ca nhạc. Đa số các bà, các em bé mặc áo dài, còn các em lớn thì ăn mặc tùy
tiện. Các lão bô mặc áo dài khăn đóng làm lễ Tết theo truyền thống. Lân múa,
pháo nổ rộn rã trong hai ngày. Thi tài nói tiếng Việt, thi Hoa Hậu áo dài thiếu
nữ, bói quẻ, bốc xâm, trò chơi kêu lô tô….Màu sắc xuân tha phương chỉ có vậy.
Người tổ chức cố gắng duy trì sinh hoạt Hội Tết như một sự nối kéo, giữ gìn
truyền thống Văn Hóa Việt. Tôi chợt nghĩ có đủ để duy trì truyền thống cho lớp
trẻ không? Khi chúng lớn lên trong cái tổng thể Mỹ, nói tiếng Mỹ nhiều hơn nói
tiếng Việt…xã hội Mỹ cuốn chúng chạy theo với tháng ngày hội nhập…Thời gian…rồi
sẽ về đâu? Cộng đồng có mở các lớp Việt Ngữ cho các cháu nhỏ học tiếng Việt, số
con em đi học được là bao? chúng học tiếng Việt có đủ để đọc sách Việt không?
Đa số các em được cha mẹ cho đi học từ nhỏ.Khi các cháu lên Trung Học thì sẽ
khó mà học tiếp vì bài học, bài tập ở trường càng lúc càng nhiều. Lúc lên Đại
Học thì bỏ luôn vì làm sao có thời giờ để đi học tiếng Việt. Các cháu miệt mài
học toàn thời gian để mong ra trường và đi kiếm việc làm. Thử hỏi với số vốn
mấy năm học chữ Việt có đủ để các em đọc và hiểu văn chương Việt không? Nhiều
gia đình cố gắng bắt con cháu nói tiếng Việt ở nhà, tuy nhiên chúng cố gắng nói
chuyện với người lớn, còn khi chúng nói chuyện với nhau thì toàn xử dụng ngôn
ngữ Mỹ. Một số các em nói lưu loát tiếng
Việt nhưng chưa chắc các em đọc và hiểu văn chương Việt. Chúng thường đọc sách
tiếng Mỹ, nhiều em có năng khiếu viết văn thì chỉ viết bằng tiếng Mỹ. Mặt
khác, nền văn học bên ngoài nầy có đủ sách vở để các cháu tìm hiểu và đọc
không?. Thơ văn thì chỉ có những người lớn tuổi còn nghĩ đến, còn viết và in ra
sách. Sách in ra tốn kém, nhưng khi ra mắt sách thì chỉ có các người lớn tuổi
và bạn quen biết vài chục người, đông lắm là hơn trăm người tới tham dự. Số
người tham dự mua sách ủng hộ chỉ đủ trả chi cho chi phí tổ chức ra mắt sách.
Số sách còn lại cũng chỉ để tặng cho các bạn lớn tuổi đọc. Sách bày bán ở tiệm
sách ư? người ta bỏ tiền ra ăn một tô phở 6,7 đồng chứ chả thèm mua một quyển
sách cỡ giá như vậy. Tôi có 2 tập thơ in thành sách. Quyển đầu in 300 cuốn để
tặng bạn bè xa gần và các tổ chức hội đoàn trong các buổi sinh hoạt. Số còn lại
khi có dịp sang Úc Châu thăm mấy đứa em tôi định cư ở đó. Tôi mang tập thơ sang
Úc để tặng cho bạn bè. Sẵn dịp đồng hương Trà Vinh có tổ chức buổi cơm từ thiện
để quyên tiền giúp một em bé ở Trà Vinh bị phỏng nặng, được một người Úc bảo
trợ cho sang Úc chữa trị. Trong dịp nầy tôi cho ra mắt Tập Thơ luôn… số tập thơ
còn lại trong đêm đó được bà con ủng hộ hết. Số tiền thu được khấm khá. Tôi xin
tặng hết số tiền đó cho buổi cơm gây quỹ giúp cho em bé bị phõng. May quá 300 cuốn
đã gần hết.
Tập thơ thứ 2 vì muốn ra mắt sách chung
với bạn thơ Giang Thiên Tường, con trai út của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc nên tôi
in 500 quyển. Sau buổi ra mắt và tặng bạn bè chỉ vơi đi hơn trăm cuốn, còn lại
hơn 300 cuốn nằm mọc nấm ở nhà kho. Tôi nghĩ bụng sẽ không in nữa mặc dù tôi có
thể in ra 2 tập thơ và một tập truyên ngắn !
Từ ngày Internet nở rộ, máy computer
rẻ, các nhóm thơ văn thành hình nhiều. Thơ văn nở rộ trên hệ thống Net và được
lan tỏa ra khắp thế giới. Người ta đọc thơ văn và tìm hiểu qua các tài liệu khá
đầy đủ trên GOOGLE. Từ đó một số các tạp chí, nhật báo tự khai tử dần. Sách in
ra ai ủng hộ đây? Tôi nghĩ cách “Tại sao mình không làm ở trang Blogger?”. Tôi
thự hiện và phổ biến 2 tập thơ và tập
truyện ngắn trên GOOGLE BLOGGER
chỉ mất công mà không tốn kém lại được NET liên kết đi khắp nơi.
Tìm hiểu thơ văn trao đổi trên Net tôi
thấy người viết cũng chỉ là những bậc cao niên hoặc trung niên làm thơ, viết
văn, khảo luận, âm nhạc….chuyển đạt cho nhau hàng ngày. Có một số các bạn trẻ
tham dự nhưng đây chỉ là các em lớn tuổi có trình độ học vấn sẵn ở Việt Nam
được bảo lãnh hay đi du học sang Mỹ còn thích văn chương Việt nên tham dự, tuy
nhiên số nầy rất ít không đáng vực dậy cho nền văn học trong tương lai ở hải ngoại
một khi các bậc cao niên tàn lụi.
Gần đây xuất hiện vài tài năng viết
của các con em của cộng đồng Việt tại hải ngoại, nhưng chỉ viết bằng tiếng Anh.
Đa số các tài năng trẻ Việt đi vào dòng chính của nước Mỹ hoàn toàn như người
Mỹ. Sự thành công của con em người Việt trên mọi lãnh vực từ văn học, kỹ thuật,
khoa học cả chính trường rất đáng tự hào….Chúng ta có những thế hệ đàn em, đàn
con trở thành bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, những khoa học gia lỗi lạc, các nghị viên
thành phố, các nghị sĩ tiểu bang, liên bang. Trong chánh phủ có người làm chức
cao trong Bộ Tư Pháp đến chức Phụ Tá Bộ Trưởng, trong Quân Đội thì mới đây có
tin 13 sĩ quan gốc Việt được thăng cấp Đại Tá…
nhưng đó là sự thành công của người Mỹ gốc Việt. Chúng ta chỉ còn
giữ được tinh thần Việt nhưng văn chương Việt khó mà kéo dài được trong mai hậu
ở ngoài nầy khi lớp già không còn. Hoặc giả văn chương Việt cần được dịch ra
tiếng Anh thì có cơ may được con cháu chúng ta đón nhận. Chỉ có cách nầy mới
đưa con em ta gần gũi với truyền thống Việt, văn hóa Việt. Còn các hình thức
khác chỉ là thời vụ…không đủ để kéo
chúng gần truyền thống Việt là bao. Tuy nhiên có còn hơn không.
Cái khổ của những người lớn tuổi ở ngoài
nầy là lòng hoài nhớ cố hương. Nỗi lòng như là cơn sóng ngầm rì rầm dưới bề mặt
cửa trùng dương êm ả. Nhìn về hướng quê nhà muốn quay về nhưng không về
được…không về được trong một ý nghĩ không muốn nạp mình trong khuôn khổ bất an
từ mọi phía ở đó. Ở bên ngoài an cư thoải mái nhưng thấp thỏm chờ
đợi một điều gì đó ở trong nước đổi thay, dễ thở một chút...?. Họ bị dằn xé bởi
hai phía. Đất dung thân thì chỉ cho là nơi
tạm cư chờ ngày về quê hương. Ngày
về thì cứ mịt mù bóng nhạn…
Có
người bạn tâm sự về chuyện về hay không về với tôi như thế nầy: “Con cháu mình đang sinh hoạt nơi đây muốn
dứt rời đâu phải dễ! Mà trở về quê thì đâu dễ sống như ngày xưa! Vì mấy chục
năm sống quen với lối sống Mỹ và lối suy nghĩ của người dân Mỹ, sự an toàn tuyệt
đối trong mọi lãnh vực: Trẻ con, phụ nữ, già yếu, bệnh tật được ưu tiên…! Nói một
cách đơn giản như bữa ăn ở đây chỉ có một con ruồi lọt vô nhà thôi thì bỏ đũa
tìm đập nó cho bằng được. Bị bệnh vô nhà thương thì Bác Sĩ, Y Tá và mọi người
trong bệnh viện săn sóc, trị liệu đúng mức, không phải chạy lót cho y tá, bác
sĩ. Ở khắp nơi mọi người đều sắp hàng chờ đến lượt mình. Vô ý chạm người khác là xin lỗi ngay. Một đứa trẻ thấy 1 đồng bạc rơi bảo nó lấy.
Nó lắc đầu nói: “Đó không phải là
tiền của tôi”. Người say rượu lái xe bị cảnh sát còng tay phạt tù, phạt tiền
trắng mắt…Nuôi một con gà gáy ó o… mà nhà bên hàng xóm không chịu, nó thưa cảnh
sát…mình phải đem bán con gà đi….Đó…! Những điều đơn giản như vậy đã quen mấy
chục năm sống ở Mỹ….Liệu ông về bên đó có sống được không? Sống bên nầy thấy
vậy mà nhất thế giới đó bạn….!
Ngày qua ngày, bóng chiều càng nghiêng về
một phía tuổi đời. Tôi nghĩ đến cái chết sẽ tới không xa…Chết nên chôn hay nên
đốt thân xác thành tro bụi? Vợ tôi đọc kinh Phật, đi chùa nhiều thì nói: “Cứ đốt ra tro rồi đem tro ra biển…thân cát
bụi hãy để cát bụi chìm vào biển…bụi không làm vướng bận trần ai”. Tôi thì
nghĩ khác: “Nên chôn để có nơi cho các
con cháu có dịp đến …cho dù ít- dù thường cũng là chỗ nhớ để nhắc nhở mối liên
hệ đời sau. Vợ tôi nói: “Chôn tốn
nhiều tiền mà chắc gì con cháu có thời giờ để đến thăm”.Tôi đổi ý:: “Nên đem tro cốt về Việt Nam chôn trong phần
mộ gia tộc để khi các thế hệ con cháu có dịp về quê hương chúng nó thắp nén
nhang cho mình và luôn cho ông bà tổ tiên trong khuôn viên gia tộc. Đó cũng là
cái lý đề chúng về…về thăm mộ ba má ông bà”. Tôi cho ý kiến nầy là đúng
nhất (với tôi) và được sự đồng tình của một số em tôi. Chúng tôi lo chỉnh trang
lại khu mộ gia tộc và chọn cho mình cách về nầy. Tôi làm bài thơ sau đây như là
một lời nhắn chung cuộc của đời tôi.
Lời nhắn của
người cha già
Một mai đây ba trở thành lú lẫn
Tay chân run không đi đứng vững vàng
Lùa miếng ăn rơi rớt đổ trên bàn
Nhai trệu trạo răng chiếc còn chiếc mất
Càng về già người hóa thành trẻ nít
Ba vụng về trong mọi chuyện con ơi!
Lúc còn nhỏ con cũng như vậy thôi
Ba đút mớm cho con từng chén bột
Con phá phách bột trây đầy mặt đất
Ba xoắn tay thu dọn những đớm rơi
Ba dìu con đi bước một bước hai
Con trợt té ba xuýt xoa đỡ lấy
Một vết đỏ làm má con giận lẫy
Trách sao ba vô ý làm con đau
Mới một tuổi con có đứa em sau
Nên mỗi tối ba nằm kề con ngủ
Rồi từ đó quen hơi ba ấp ủ
Vắng ba…con đòi má gọi ba về…
Một thoáng đời…qua nhiều nỗi nhiêu khê
Nay ba sắp trở thành người bất khiển
Cho dù thế nào trong cơn thay chuyển
Hãy cho ba kề cận ở gần con
Ở xứ nầy cứ theo lệ bàng quan
Cứ bỏ mặc người già nơi viện lão
Ở nơi đó bốn bức tường vôi mờ ảo
Vắng bóng người và tiếng của người thân
Vắng tiếng trẻ thơ và hơi ấm ân cần
Ba sẽ chết với cơn buồn ray rứt
Óc lú lẫn nhưng có khi chợt thức
Tai vẳng nghe hồn nhớ chuyện năm xưa
Hãy để ba nằm lặng lẽ góc nhà
Cho hạnh phúc chảy vào hồn già cỗi….
Rồi một ngày hơi thở ba tắt vội.
Hỏa táng ba đem chút nắm tro về
Có dịp nào con trở lại đất quê
Chôn hỏa cốt bên mộ phần gia tộc
Hồn ba sẽ thỏa tình mơ ước
Về đất xưa quyện hương khói làng xưa
Khi già yếu bệnh hoạn thì
sao? Vợ tôi nói “phải đi Nursing home vì
ở đó có y tá túc trực chăm sóc. Ông nằm ở nhà ai lo. Con cái bận đi làm
chúng nó làm sao lo cho kham”. Bà xã tôi bắt kịp tiến bộ quá! Tôi thì cứ muốn nấn ná ở
ngôi nhà mình đã tạo dựng…cho dù một góc nhỏ để hưởng cái ấm áp-hơi hướm của
gia đình. Tôi nghe nhiều câu chuyện Home mà buồn khi nghĩ nếu là mình….? Muốn
là muốn nhưng nếu tình thế không thể thì làm sao? Đó là nỗi buồn của riêng tôi.
Nhưng cái ý đem tro cốt về quê vẫn là cái ý nhất định như đinh đóng cột. Nắm
tro có về quê hương cũ… thì không còn gì để bận bịu với cuộc sống dương gian!
Đêm thanh vắng trên khung
giường một mình. Tôi chợt nghe ngoài trời gió lùa vi vút trên các nhánh cây trơ
cành mùa đông. Năm nay trời lạnh nhiều hơn mọi năm. Tôi bật ho khan mấy tiếng.
Cái ngổn ngang trong hồn đang triền miên tuôn chảy bỗng dừng lại. Tôi nhủ thầm
rằng: “Hãy dỗ giấc ngủ đi ta ơi! Ngày mai còn đi làm….”. Cho dù ở đâu-Thế nào “Cơm
áo vẫn là sợi dây kéo ta bật dậy mà đi…!
( Cali
năm 2014)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét